Đề Xuất 3/2023 # Bài 6: Hệ Phương Trình Kirchhoff Của Mạch (Với Nguồn Dc) # Top 9 Like | Sieuphampanorama.com

Đề Xuất 3/2023 # Bài 6: Hệ Phương Trình Kirchhoff Của Mạch (Với Nguồn Dc) # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bài 6: Hệ Phương Trình Kirchhoff Của Mạch (Với Nguồn Dc) mới nhất trên website Sieuphampanorama.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Các phần tử cơ bản:

Trong mạch điện một chiều các phần tử L, C suy biến . Do đó ta chỉ việc giải mạch điện thuần trở.

Cuộn dây: L tương đương với dây dẫn ( ngắn mạch R=0).

Tụ điện: Tụ điện C suy biến thành hở mạch (R = ∞).

Ví dụ:

Với bài toán giải mạch với nguồn DC, ta sử dụng 5 phương pháp sau:

–  Phương pháp dòng nhánh.

– Phương pháp dòng vòng.

– Phương pháp điện thế nút.

– Phương pháp tổng trở tương đương.

– Phương pháp xếp chồng.

Để giải mạch thuần trở, ta đi xây dựng hệ phương trình dòng nhánh của mạch (phương pháp dòng nhánh) theo các bước sau:

– Xác định hệ phương trình Kirchhoff.

– Giữ nguyên các phương trình K1 và sử dụng định luật Ohm chuyển các điện áp trong phương trình K2 thành phương trình theo các dòng nhánh ta sẽ thu được hệ phương trình cho các ẩn dòng nhánh.

– Giải hệ ta có các dòng nhánh.

– Sử dụng định luật Ohm và các định luật K1, K2 để tìm các tín hiệu điện áp trong mạch, từ đó suy ra được công suất nếu được yêu cầu.

2. Công suất trong mạch một chiều:

– Định luật bảo toàn công suất: Tại mọi thời điểm ta có công suất tiêu thụ bằng công suất phát.

– Các cuộn dây và tụ điện không tiêu thụ năng lượng.

– Nếu mạch chỉ có 1 nguồn thì chắc chắn đó là nguồn phát năng lượng, nếu mạch có nhiều nguồn thì có thể có nguồn cũng tiêu thụ năng lượng.

Bài 7: Phương pháp dòng vòng (với nguồn DC) Bài 8: Phương pháp điện thế nút (với nguồn DC) Bài 9: Phương pháp tổng trở tương đương (với nguồn DC)

Có thể bạn thích: Mô hình trạm biến áp ngầm, trạm biến áp trong nhà, trạm biến áp ngoài trời.

Nguồn Mạch Và Nội Dung Của Giáo Lý

“Dạy giáo lý là dạy cái gì?”. Đây là câu hỏi nhắm đến Nguồn mạch và Nội dung của giáo lý. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần nhắc lại Bản chất của việc dạy giáo lý (Dạy giáo lý là gì?) mà chúng ta đã tìm hiểu trong bài “Giáo lý trong viễn tượng Loan báo Tin Mừng”, trong đó xác định Giáo lý là một trong những thời điểm chính yếu của tiến trình Loan báo Tin Mừng (LBTM); là tác vụ Lời Chúa ; là giáo dục đức tin và là hoạt động của Hội Thánh . Với cái nhìn này, chúng ta thấy việc dạy giáo lý cũng là việc Loan báo Tin Mừng trong một phạm vi nhất định. Vấn đề đặt ra là Loan báo Tin Mừng nào? Nói cách khác “Đâu là nội dung của việc Loan báo Tin Mừng”? và “Nội dung ấy bắt nguồn từ đâu”?

Trong bài này, chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu và làm sáng tỏ hai vấn đềvàcủa giáo lý

I. NGUỒN MẠCH CỦA GIÁO LÝ

Dạy giáo lý (DGL) là một trong những thời điểm chính yếu của việc Loan báo Tin Mừng (LBTM), vì thế, DGL cũng là LBTM trong một phạm vi nhất định. Nhưng Tin Mừng được rao giảng là Tin Mừng nào? Thưa, Tin Mừng đó chính là Chúa Giêsu, Con Một Thiên Chúa đã được Chúa Cha trao ban cho thế gian: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi ban Con Một của Người cho chúng ta, để những ai tin vào Con của Người thì được sống đời đời” (Ga 3,16). Trong ý hướng này, nguồn mạch của việc DGL chính là Lời Chúa. “Lời” bao gồm những lời Chúa nói và những việc Chúa làm để bày tỏ ý định và kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa dành cho chúng ta, còn gọi là mạc khải; Lời được mạc khải trọn vẹn và chung cuộc nơi Chúa Giêsu Con Một Thiên Chúa (DV, 4).

Từ nguồn mạch căn bản Lời Chúa, một số văn kiện và tài liệu huấn giáo sắp xếp và phân biệt theo những thể thức khác nhau như sau:

nguồn mạch giáo lý: Một vài văn kiện giáo lý nói đến bộ ba, bao gồm ” Thánh Kinh, Thánh Truyền và” (HDTQ 96) hoặc Thánh Kinh, Phụng Vụ và Đời Sống của Giáo Hội (Hội Đồng Giám Mục Pháp 1965, 25); trong khi đó một số văn kiện khác lại liệt kêkhác nhau đó là: Thánh Kinh, Thánh Truyền ,, những( Canh Tân Giáo Lý của HĐGM Italia, 104). Toàn bộ những nguồn mạch giáo lý có vẻ như sắp xếp khác nhau, vì thế cần phải làm sáng tỏ và phân biệt rõ ràng.

Nếu nói đến những nguồn mạch giáo lý theo nghĩa thuần túy, hay nói cách khác hiểu nguồn mạch là nơi chứa đựng chất liệu hoặc nội dung của giáo lý, thì những nguồn mạch giáo lý thật là mênh mông, rộng lớn, bao gồm không chỉ trong những lãnh vực nội dung thuần túy Kitô giáo, mà còn trong toàn bộ phạm vi cuộc sống con người, thế giới và lịch sử xét như thực tại được giải thích dưới ánh sáng Tin Mừng. Còn nếu nói đến những nguồn mạch giáo lý theo nghĩaý muốn nói đến những nơi chốn và những dấu chỉ mà Lời Chúa giải thích và soi sáng cuộc sống cũng như lịch sử, thì nguồn mạch giáo lý mang một nét đặc thù và ý nghĩa riêng của giáo lý như chúng ta sẽ thấy sau đây.

Công đồng Vatican II đã khám phá và khẳng định trong Hiến chế tín lý về Mạc khải về Thánh Kinh trong đời sống Giáo Hội (). Đây cũng là điều cần phải suy tư trong lãnh vực giáo lý, vì trong Lời Chúa, giáo lý tìm thấy “linh hồn” và “cuốn sách” của mình ( Canh Tân Giáo Lý , 105). Thật vậy, “Kinh Thánh là “Cuốn Sách” chứ không phải là tài liệu hỗ trợ cho giáo lý (RdC 107), vì thế việc dạy giáo lý “phải thấm đẫm tư tưởng, tinh thần và thái độ Kinh Thánh và Tin Mừng, nhờ sự tiếp xúc chuyên cần với chính các bản văn” (DGL 27; HDTQ 96). Điều này cũng được Ủy Ban Kinh Thánh Giáo Hoàng nhắc đi nhắc lại:

Vì thế mà người ta có thể nói, nhiệm vụ chính yếu của giáo lý là khai tâm việc đọc, hiểu và hiện thực hóa Thánh Kinh ( Sứ điệp Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới gửi Dân Chúa , 9).

Thánh Truyền nhập thể trong lịch sử và diễn tả qua những ” truyền thống” khác nhau, những truyền thống này diễn tả sự phong phú của nó qua những tín biểu, phụng vụ, tư tưởng của các thánh Giáo phụ, suy tư thần học, giáo huấn của các mục tử, và qua chính sự sống và lịch sử của Hội Thánh.

Huấn quyền và việc suy tư giáo lý đã vạch ra những chiều kích khác nhau, mà chúng ta thấy trong Hướng Dẫn Tổng Quát Việc Dạy Giáo Lý (98-108). Dựa vào đó, chúng ta có thể liệt kê 5 chiều kích. Những chiều kích này hình thành một sự tiếp cận sứ điệp Kitô giáo, nội dung của giáo lý.

Tính quy Kitô của việc dạy giáo lý, nhờ sự năng động nội tại, đưa đến việc tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.(HDTQ 100, 101, 103, 116).

“Thiên Chúa muốn thánh hoá và cứu độ con người không như những cá nhân riêng rẽ không chút liên đới với nhau, nhưng Ngài muốn làm cho họ thành một dân tộc để họ nhận biết Ngài trong chân lý và phụng sự Ngài trong thánh thiện” (LG 9).

Luật của Thiên Chúa về “ơn cứu độ trong cộng đoàn” thực hiện qua toàn bộ nội dung của kế hoạch cứu độ. Cho nên sẽ không đủ nếu như dành một phần trong chương trình giáo lý cho đề tài Giáo Hội, mà phải diễn tả chiều kíchgiáo hội-bí tích trong toàn bộ niềm tin Kitô giáo.Trong đó “cơ cấu bí tích” có một tầm quan trọng đặc biệt như là trục cấu trúc kinh nghiệm Kitô hữu trong Giáo Hội (x. HDTQ 108).

“Sứ điệp của Chúa Giêsu về Thiên Chúa là một tin vui cho nhân loại” (HDTQ 101).

“Tin Mừng Nước Thiên Chúa loan báo ơn cứu độ bao gồm một sứ điệp giải thoát” (HDTQ 103).

Kinh nghiệm trong việc truyền đạt nội dung giáo lý không chỉ vì lý do sư phạm hay phương pháp, mà chính là bản chất sứ điệp Kitô giáo:

“Tương quan giữa sứ điệp Kitô giáo và kinh nghiệm con người không chỉ đơn thuần là vấn đề phương pháp, nhưng phát xuất từ chính mục đích của việc dạy giáo lý, tức là đặt con người trong mối hiệp thông với Chúa Giêsu Kitô” (HDTQ 116).

“Vì thế, hôm nay, đang khi truyền đạt sứ điệp Kitô giáo khởi đi từ ý thức mãnh liệt đã có, Hội Thánh không ngừng “tưởng nhớ” và kể lại những biến cố cứu độ của quá khứ” (HDTQ 107).

Chiều kích lịch sử thấm nhuần trong toàn bộ sự phát triển sứ điệp Kitô giáo, hướng đến sự hoàn thành trong thời cánh chung:

” Nhiệm cục cứu độ mang đặc tính lịch sử vì được thực hiện trong thời gian: “đã bắt đầu trong quá khứ, đã phát triển và đạt tới chóp đỉnh trong Đức Kitô, đang tỏ ra sức mạnh trong hiện tại và đang đạt đến sự hoàn thành trong tương lai” (HDTQ 107).

Luân lý Kitô giáo không phải là nội dung giáo thuyết phải đạt tới hoặc như kết quả đơn giản của việc áp dụng những điều phải tin, nhưng phải hiểu toàn bộ sứ điệp Kitô giáo đem đến một giá trị luân lý và thúc đẩy một cách sống nhất quán với những chân lý tuyên xưng.

Cho nên điều quan trọng trong giáo lý là sứ điệp luân lý không bao giờ được tách rời khỏi kinh nghiệm đặt trọng tâm nơi đức tin và sự hoán cải. Luân lý Kitô giáo không giản lược trong một chuỗi những “luật điều phải tuân giữ”, nhưng trước hết là thái độ sống và hành vi biểu lộ mầu nhiệm đức tin mà mình tuyên xưng:

“Trở lại với Chúa Giêsu Kitô bao hàm việc bước theo Người. Vì vậy, việc dạy giáo lý phải truyền đạt cho các môn đệ chính những thái độ sống của vị Tôn Sư. Như thế, họ phải đi theo một lộ trình biến đổi nội tâm nhờ tham dự vào mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa, họ “vượt từ con người cũ tới con người mới trong Đức Kitô”” (HDTQ 85).

Trình Bày Nguồn Gốc Của Ý Thức (Nguồn Gốc Tự Nhiên Và Xã Hội)

Có thể khái quát ý thức có hai nguồn gốc: Nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.

a) Nguồn gốc tự nhiên

Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức sinh ra vật chất, chi phối sự tồn tại và vận động của thế giới vật chất. Học thuyết triết học duy tâm khách quan và triết học duy tâm chủ quan có quan niệm khác nhau nhất định về ý thức, song về thực chất họ giống nhau ở chỗ tách ý thức ra khỏi vật chất, lấy ý thức làm điểm xuất phát để suy ra giới tự nhiên. Các nhà duy vật trước Mác đã đấu tranh phê phán lại quan điểm trên của chủ nghĩa duy tâm, không thừa nhận tính chất siêu tự nhiên của ý thức, đã chỉ ra mối liên hệ khăng khít giữa vật chất và ý thức, thừa nhận vật chất có trước ý thức, ý thức phụ thuộc vào vật chất. Do khoa học chưa phát triển, do ảnh hưởng của quan điểm siêu hình – máy móc nên họ đã không giải thích đúng nguồn gốc và bản chất của ý thức. Dựa trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học thần kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, ý thức không phải có nguồn gốc siêu tự nhiên, không phải ý thức sản sinh ra vật chất như các nhà thần học và duy tâm khách quan đã khẳng định mà ý thức là một thuộc tính của vật chất, nhưng không phải là của mọi dạng vật chất, mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người. Bộ óc người là cơ quan vật chất của ý thức. ý thức là chức năng của bộ óc con người. ý thức phụ thuộc vào hoạt động bộ óc người, do đó khi bộ óc bị tổn thương thì hoạt động của ý thức sẽ không bình thường. Vì vậy, không thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt động của bộ óc. ý thức không thể diễn ra, tách rời hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người. Khoa học đã xác định, con người là sản phẩm cao nhất của quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của vật chất vận động, đồng thời đã xác định bộ óc của con người là một tổ chức sống đặc biệt có cấu trúc tinh vi và phức tạp bao gồm khoảng 14 -15 tỷ tế bào thần kinh. Các tế bào này có liên hệ với nhau và với các giác quan, tạo thành vô số những mối liên hệ thu nhận, điều khiển hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài qua các phản xạ không điều kiện và có điều kiện. Quá trình ý thức và quá trình sinh lý trong bộ óc không đồng nhất, không tách rời, không song song mà là hai mặt của một quá trình sinh lý thần kinh mang nội dung ý thức. Nhưng tại sao bộ óc con người – một tổ chức vật chất cao – lại có thể sinh ra được ý thức?. Để trả lời câu hỏi này chúng ta phải nghiên cứu mối liên hệ vật chất giữa bộ óc với thế giới khách quan. Chính mối liên hệ vật chất ấy hình thành nên quá trình phản ánh thế giới vật chất vào óc con người. Phản ánh là thuộc tính phổ biến trong mọi dạng vật chất. Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại của chúng. Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc vào cả hai vật (vật tác động và vật nhận tác động). Trong quá trình ấy, vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động. Đây là điều quan trọng để làm sáng tỏ nguồn gốc tự nhiên của ý thức. Trong quá trình tiến hóa của thế giới vật chất. Các vật thể càng ở bậc thang cao bao nhiêu thì hình thức phản ánh của nó càng phức tạp bấy nhiêu. Hình thức phản ánh đơn giản nhất, đặc trưng cho giới tự nhiên vô sinh là những phản ánh vật lý, hóa học. Những hình thức phản ánh này có tính chất thụ động, chưa có định hướng sự lựa chọn. Hình thức phản ánh sinh học đặc trưng cho giới tự nhiên sống là bước phát triển mới về chất trong sự tiến hóa của các hình thức phản ánh. Hình thức phản ánh của các cơ thể sống đơn giản nhất là biểu hiện ở tính kích thích, tức là phản ứng trả lời tác động của môi trường ở bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trao đổi chất của chúng. Hình thức phản ánh tiếp theo của các động vật chưa có hệ thần kinh là tính cảm ứng, tính nhạy cảm đối với sự thay đổi của môi trường. Hình thức phản ánh của các động vật có hệ thống thần kinh là các phản xạ. Hình thức phản ánh ở động vật bậc cao khi có hệ thần kinh trung ương xuất hiện là tâm lý. Tâm lý động vật chưa phải là ý thức, nó mới là sự phản ánh có tính chất bản năng do nhu cầu trực tiếp của sinh lý cơ thể và do quy luật sinh học chi phối.

ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực. ý thức chỉ nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất cùng với sự xuất hiện con người. ý thức là ý thức con người, nằm trong con người, không thể tách rời con người. Như vậy, ý thức bắt nguồn từ một thuộc tính của vật chất – thuộc tính phản ánh – phát triển thành. ý thức ra đời là kết quả phát triển lâu dài của thuộc tính phản ánh của vật chất. Nội dung của ý thức là thông tin về thế giới bên ngoài, về vật được phản ánh. ý thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài vào đầu óc con người. Bộ óc người là cơ quan phản ánh, song chỉ có bộ óc thôi thì chưa thể có ý thức. Không có sự tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan và qua đó đến bộ óc thì hoạt động ý thức không thể xảy ra. Như vậy, bộ óc người (cơ quan phản ánh về thế giới vật chất xung quanh) cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc – đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức. Những điều đã trình bày về nguồn gốc tự nhiên của ý thức cho thấy “sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong những phạm vi hết sức hạn chế: trong trường hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trước và cái gì là cái có sau? Ngoài giới hạn đó, thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó là tương đối”1. ý thức chính là đặc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao mà thôi.

b) Nguồn gốc xã hội

Để cho ý thức ra đời, những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể thiếu được, song chưa đủ; điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là những tiền đề, nguồn gốc xã hội. ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc con người nhờ lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội. Lao động là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra những sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của mình, là một quá trình trong đó bản thân con người đóng góp vai trò môi giới, điều tiết và giám sát trong sự trao đổi vật chất giữa người và tự nhiên. Lao động là điều kiện đầu tiên và chủ yếu để con người tồn tại. Lao động cung cấp cho con người những phương tiện cần thiết để sống, đồng thời lao động sáng tạo ra cả bản thân con người. Nhờ có lao động, con người tách ra khỏi giới động vật. Một trong những sự khác nhau căn bản giữa con người với động vật là ở chỗ động vật sử dụng các sản phẩm có sẵn trong giới tự nhiên, còn con người thì nhờ lao động mà bắt giới tự nhiên phục vụ mục đích của mình, thay đổi nó, bắt nó phục tùng những nhu cầu của mình. Chính thông qua hoạt động lao động nhằm cải tạo thế giới khách quan mà con người mới có thể phản ánh được thế giới khách quan, mới có ý thức về thế giới đó. Sự hình thành ý thức không phải là quá trình thu nhận thụ động, mà đó là kết quả hoạt động chủ động của con người. Nhờ có lao động, con người tác động vào thế giới khách quan, bắt thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của mình thành những hiện tượng nhất định, và các hiện tượng ấy tác động vào bộ óc người, hình thành dần những tri thức về tự nhiên và xã hội. Như vậy, ý thức được hình thành chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan của con người, làm biến đổi thế giới đó. ý thức với tư cách là hoạt động phản ánh sáng tạo không thể có được ở bên ngoài quá trình con người lao động làm biến đổi thế giới xung quanh. Vì thế có thể nói khái quát rằng lao động tạo ra ý thức tư tưởng, hoặc nguồn gốc cơ bản của ý thức tư tưởng là sự phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người trong quá trình lao động của con người. Lao động không xuất hiện ở trạng thái đơn nhất, ngay từ đầu nó đã mang tính tập thể xã hội. Vì vậy, nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và nhu cầu trao đổi tư tưởng cho nhau xuất hiện. Chính nhu cầu đó đòi hỏi xuất hiện ngôn ngữ. Ngôn ngữ do nhu cầu của lao động và nhờ lao động mà hình thành. Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Không có ngôn ngữ thì ý thức không thể tồn tại và thể hiện được. Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp trong xã hội, đồng thời là công cụ của tư duy nhằm khái quát hóa, trừu tượng hóa hiện thực. Nhờ ngôn ngữ mà con người tổng kết được thực tiễn, trao đổi thông tin, trao đổi tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác. ý thức không phải thuần túy là hiện tượng cá nhân mà là một hiện tượng xã hội, do đó không có phương tiện trao đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được. Vậy, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội. ý thức phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội. ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội.

Bài 16. Phương Trình Hoá Học

TRƯỜNG THCS PHAN ĐÌNH PHÙNGHOÁ HỌC LỚP 8Tiết 22: PHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌCGiáo viên : ĐẶNG THỊ HOA

Kiểm tra bài cũ 1.Trình bày nội dung định luật bảo toàn khối lượng?Cho phuong trình ch? sau: Cacbon + Khí oxi ? Khí cacbonic ( CO2 ) Bi?t kh?i lu?ng cacbon b?ng 9g, kh?i lu?ng khí oxi b?ng 24g.-Vi?t cơng th?c v? kh?i lu?ng c?a ph?n ?ng x?y ra?– Tính kh?i lu?ng c?a khí cacbonic du?c t?o thnh?

1. Nội dung định luật bảo toàn khối lượng: Trong một phản ứng hoá học tổng khối lượng của các sản phẩm bằng tổng khối lượng các chất tham gia phản ứng.2. Theo định luật bảo toàn khối lượng ta có: mC + m = m Khối lượng của khí cacbonic là: m = 9+24 =33g

Phương trình hóa học: 2H2 + O2 2H2OHình 3 VD: Đốt cháy kim loại Magie trong không khí thu được hợp chất Magie oxit (MgO), biết Magie cháy là xảy ra phản ứng với khí oxi trong không khí.Viết phương trình chữ của phản ứngViết sơ đồ phản ứng Cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố trên Phương trình chữ: Magie + Khí oxi Magie oxitSơ đồ phản ứng: Mg + O2 MgOCân bằng: 2Mg + O2 2MgO

Phương trình hóa học dùng để biểu diễn gì? Gồm công thức hóa học và hệ số thích hợp của những chất nào?Phương trình hóa học dùng để biểu diễn ngắn gọn phản ứng hóa học, gồm công thức hóa học của các chất phản ứng và sản phẩm với hệ số thích hợp.VD1Biết Nhôm tác dụng với khí oxi tạo ra Nhôm oxit ( Al2O3 )Hãy lập phương trình hóa học của phản ứng trênBước 1:Viết sơ đồ của phản ứng. Bước 2: Cân bằng số nguyên tử mỗi nguyên tố Bước 3: Viết phương trình hoá học Al + O2 Al2O3Al + O2 2Al2O3Al + 3O2 2Al2O34Al + 3O2 2Al2O34Al + 3O2 2Al2O3VD2: Lập PTHH của phản ứng sau Thủy ngân oxit  Thủy ngân + khí oxi ( HgO)VD3 Lập PTHH của phản ứng Natri cacbonat (Na2CO3) tác dụng với Canxi Hidroxit (Ca(OH)2 ) tạo ra Canxi cacbonat (CaCO3 ) và Natri hidroxit (NaOH)

Phương trình chữ: Natri cacbonat + Canxi hidroxit  Canxi cacbonat + Natri hidroxit

Bước 1: Sơ đồ phản ứng Na2CO3 + Ca(OH)2  CaCO3 + NaOHBước 2: Cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố Na2CO3 + Ca(OH)2  CaCO3 + 2NaOHBước 3: Viết PTHH Na2CO3 +Ca(OH)2 CaCO3 + 2NaOHBài 1: cân bằng cac phương trình hóa hoc au Na + O2  Na2OMg + AgNO3  MgNO3 + Ag c. Al + HCl  AlCl3 + H2 CaO + HNO3  Ca(NO3)2 + H2OK + H2O  KOH + H2 Fe + Cl2  FeCl3

SĐ 2K + 2H2O  2KOH + H2 2) K2O + H2O  2KOH 3) Na + O2  Na2O5) SO3 + H2O  H2SO47) BaO + H2O  Ba(OH)28) Al + O2  2Al2O3ĐĐĐS V? NH Bài tập: Bài tập 1,2,3/ SGK trang 57,58.H?c bi v chu?n b? bi Phuong trình hĩa h?c (ti?t 2)

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bài 6: Hệ Phương Trình Kirchhoff Của Mạch (Với Nguồn Dc) trên website Sieuphampanorama.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!