Đề Xuất 12/2022 # Đoàn Kết Toàn Dân Tộc Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh / 2023 # Top 21 Like | Sieuphampanorama.com

Đề Xuất 12/2022 # Đoàn Kết Toàn Dân Tộc Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh / 2023 # Top 21 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đoàn Kết Toàn Dân Tộc Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh / 2023 mới nhất trên website Sieuphampanorama.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đại đoàn kết dân tộc là truyền thống cực kỳ quý báu của Nhân dân ta trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã kế thừa và phát huy tinh thần đại đoàn kết trong toàn dân. Đại đoàn kết trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Đầu năm 1951, tại hội nghị đại biểu Mặt trận Liên – Việt toàn quốc, Người vạch rõ: ” Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác. Người cũng chỉ rõ: “Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của tổ quốc, ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”.Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khái quát luận điểm có tính chân lý về vai trò của khối đại đoàn kết, đó là: Đoàn kết làm ra sức mạnh; “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”; “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”… Để huy động sức mạnh của toàn dân trong công cuộc giải phóng thực dân Pháp, năm 1941 Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh gọi tắt là Việt Minh đã ra đời với liên hiệp hết thảy các từng lớp nhân dân không phân biệt tôn giáo, đảng phái, xu hướng chính trị nào, giai cấp nào, đoàn kết chiến đấu để đánh đuổi Pháp – Nhật giành quyền độc lập cho xứ sở. Chương trình cứu nước của Việt Minh gồm 44 điểm mà tinh thần cơ bản là cốt thực hiện được hai điều: “Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn được độc lập. Làm cho dân Việt Nam được sung sướng tự do”. Việt Minh đã quy tụ được nhiều tầng lớp nhân dân là lập ra được nhiều hội Công nhân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc…. Mặt trận Việt Minh – hình thức mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi nhằm tập hợp và phát huy nguồn sức mạnh của quần chúng nhân dân trong quá trình tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Đây là là một sách lược tài tình của Đảng và Hồ Chí Minh nhằm khơi nguồn sức mạnh nội sinh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm thực hiện khát vọng giành độc lập, tự do. Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công, ngày 2/9/1945, tại Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố nền độc lập của dân tộc trước toàn thể quốc dân đồng bào và thế giới. Sự thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là biểu tượng sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, của khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự dẫn dắt của Đảng và Bác Hồ.

Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm mỗi người dân đều được thụ hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các cấp ủy đảng và chính quyền phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiêp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc và yêu cầu chính đáng của nhân dân; tin dân, tôn trọng, lắng nghe những ý kiến khác nhau; có hình thức, cơ chế, biện pháp cụ thể, thích hợp để nhân dân bày tỏ chính kiến, nguyện vọng và thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua Mặt trận Tồ quốc và các đoàn thể nhân dân; trân trọng, tôn vinh những đóng góp, cống hiến của nhân dân. Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể nước ta, Đại hội XII chỉ rõ: “Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, tây duyên hải miền Trung. Nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp. Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”. Xây dựng khối đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược nhất quán, cơ bản và lâu dài của Đảng và Nhà nước ta. Với tình hình quốc tế và trong nước hiện nay, đường lối chiến lược tăng cường phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đang trở thành nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng và cấp bách của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, dao vậy, nước ta đang đứng trước nhiều cơ hội lớn, nhưng cũng sẽ gặp nhiều thách thức, khó khăn lớn trên con đường phát triển, như các thế lực phản động không ngừng tìm mọi cách thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, chống phá sự nghiệp Cách mạng của Nhân dân ta, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lợi dụng các vấn đề “nhân quyền”, ” dân tộc”, “tôn giáo” hòng li gián, chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Bên cạnh đó là nạn tham nhũng, tệ quan liêu cũng như sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã và đang cản trở việc thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gây bất bình và làm giảm niềm tin trong nhân dân. Do vậy, trong giai đoạn hiện nay, cần phải tiếp tục quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết trong tình hình mới, theo đó cần chú ý một vấn đề sau đây: Một là, phải thấu suốt quan điểm đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Hai là, đại đoàn kết là sự nghiệp của cả dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là Đảng ta, được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức, trong đó các chủ trương của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu; Ba là, bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân; kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân- tập thể- toàn xã hội; thực hiện dân chủ gắn với giữ gìn kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; không ngừng bồi dưỡng, nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc, tinh thần tự lực tự cường xây dựng đất nước; xem đó là những yếu tố quan trọng để củng cố và phát triển khối đại đoàn kết dân tộc. Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng, Nhà nước phải xây dựng và phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Trong công cuộc đổi mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tính chất là một tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện rộng lớn nhất của nhân dân ta, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân. Trước yêu cầu của nhiệm vụ mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải chủ động góp phần cùng Đảng và Nhà nước xây dựng và hoàn thiện một số chính sách chung để sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trở thành động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trương “đoàn kết rộng rãi, đoàn kết chân thành mọi thành viên trong xã hội có thể đoàn kết được, không phân biệt quá khứ, thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo, ở trong nước hay ở nước ngoài trên cơ sở mục tiêu chung là giữ vững độc lập thống nhất chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”; đoàn kết giữa nhân dân với nhân dân các nước trên thế giới; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để trở thành động lực chủ yếu để xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc”. Không những phát huy tinh thần đoàn kết dân tộc, phát huy nội lực dân tộc mà còn phải mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn lực quốc tế để phát triển đất nước.Trong điều kiện thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế, đòi hỏi phải củng cố sự đoàn kết với phong trào cách mạng các nước, đồng thời phải nắm vững phương châm ngoại giao mềm dẻo, có nguyên tắc nhằm thực hiện thắng lợi chính sách đối ngoại hiện nay của Đảng và Nhà nước ta là: Việt Nam muốn là bạn và đối tác tin cậy với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Sự nghiệp xây dựng và đổi mới là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân, cho nên mọi chủ trương chính sách của Đảng ta đều xuất phát từ dân, dựa vào dân mà thực hiện. Do đó, cần phải phát triển nguồn nhân lực con người, đào tạo đội ngũ cán bộ tốt, đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khơi dậy, phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc, coi dân chủ là mục tiêu, là động lực để xây dựng đất nước, chú trọng nâng cao ý thức làm chủ cho nhân dân. Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta coi đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo là động lực chủ yếu để phát triển đất nước.

Hồ Chí Minh toàn tậpVăn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII

Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Nhân Dân Và Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc / 2023

Đối với Hồ Chí Minh, nhân dân là phạm trù cao quý nhất, một phạm trù chính trị chủ đạo trong học thuyết cách mạng của Người. “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Đó là một minh chứng điển hình về niềm tin vào sức mạnh của nhân dân. Người khẳng định, dân khí mạnh thì binh lính nào, súng ống nào cũng không địch nổi.

Người từng nói với cán bộ: “Nếu lãnh đạo khéo thì việc gì khó khăn mấy và to lớn mấy, nhân dân cũng làm được”. Đó là sự tổng kết thực tiễn cách mạng rất sâu sắc: phải không ngừng học dân. “Nhân dân ta rất cần cù, thông minh và khéo léo. Trong sản xuất và sinh hoạt, họ có rất nhiều kinh nghiệm quý báu”, do vậy cán bộ ta “cần tham gia tổng kết những kinh nghiệm quý báu ấy”.

Ngày 10-1-1946, tại cuộc họp đầu tiên của ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Hồ Chí Minh đã nói: “Chúng ta đã hy sinh phấn đấu để giành độc lập. Chúng ta đã tranh được rồi… Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”.

Là công bộc, là đày tớ của dân, thì Đảng, Chính phủ và mỗi cán bộ phải chăm lo cho đời sống của nhân dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Người nêu rõ mục tiêu của Nhà nước là:

“1. Làm cho dân có ăn.

2. Làm cho dân có mặc.

3. Làm cho dân có chỗ ở.

4. Làm cho dân có học hành”.

3. Về đại đoàn kết toàn dân tộc

Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khái quát luận điểm có tính chân lý về vai trò của khối đại đoàn kết, đó là: Đoàn kết làm ra sức mạnh; “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”; “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”…

Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài… Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”.

Trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân để giải quyết hài hòa mối quan hệ giai cấp – dân tộc. Để tập hợp lực lượng, không được phép bỏ sót một lực lượng nào, miễn là lực lượng đó có lòng trung thành và sẵn sàng phục vụ Tổ quốc, không là Việt gian, không phản bội lại quyền lợi của dân chúng là được.

Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phải kế thừa truyền thống yêu nước – nhân nghĩa – đoàn kết của dân tộc.

Để thực hành đoàn kết rộng rãi, cần có niềm tin vào nhân dân, với đại đa số” là công nhân, nông dân. Trong bài Nói chuyện tại Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên – Việt toàn quốc, tháng 1-1955, Người chỉ rõ: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số” nhân dân, mà đại đa số” nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác”.

Phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người, trân trọng “phần thiện”, dù nhỏ nhất ở mỗi con người để lôi kéo, tập hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng. Người viết: “Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang”. “Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”.

Nguồn: Sách Những nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Vấn Đề Dân Tộc / 2023

Published on

1. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

2. Quan điểm của Mác,Ăngen,Lênin về vấn đề dân tộc.* Khái niệm:Dân tộc là một vấn đề rộng lớn bao gồm những quan hệ về chính trị,kinh tế,lãnh thổ,pháp lý,tư tưởng và văn hóa giữa các dân tộc,các nhóm dân tộc và bộ tộc* Dân tộc là sản phẩm của lịch sử* Mác và Ăngen đã nêu những luận điểm cơ bản có tính phương pháp luận về vấn đề này:Nguồn gốc,bản chất của vấn đề dân tộc,mối quan hệ cơ bản của dân tộc và thái độ của giai cấp công nhân cũng như Đảng của nó đối với vấn đề này

3. Lênin phát triển vấn đề dân tộc thành hệ thốnglý luận toàn diện, gồm các nội dung sau: Dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của lịch sử, từ những cộng đồng người: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc Ở phương Ở phương Đông, dân Tây, dân tộc xuất tộc hình thành trước hiện khi chủ khi chủ nghĩa tư bản nghĩa tư bản được được xác lập, do tác xác lập động của hoàn cảnh đặc thù, đặc biệt là qúa trình dựng nước và giữ nước thúc đẩy.

4. Vấn đề dân tộc thuộc địaKhi CNTB chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sanggiai đoạn ĐQCN, các nước đế quốc tiến hành xâmlược, cướp bóc, nô dịch các nước nhược tiểutừ đó xuất hiện vấn đề dân tộc thuộc địa Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh, dẫn đến nhiều nước thuộc địa trở thành quốc gia dân tộc độc lập

6. Tư tưởng quan điểm của dân tộc VN về độc lập DT và chủ quyền quốc gia* Dân tộc VN có truyền thống yêu nước…Ra đi tìm đường cứu nước,HCM đã mang theo tinh thần đó,đã sớm có ý thức về độc lập dân tộc.* HCM đã tiếp xúc với tư tưởng của Tôn Trung Sơn:thuyết tam dân: “Dân tộc độc lập, dân sinh hạnh phúc, dân quyền tự do”* Cuộc đấu tranh của chống ách thống trị hàng ngàn năm của dân tộc VN* Cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa

7. Vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh Vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là vấn đề dân tộc nói chung,mà là vấn đề Dân tộc thuộc địa Mác chống CNTB, Lêninchống CNĐQ, Hồ Chí Minh bàn về cuộc đấu tranh Đấu tranh chống CNTDThực chất chống CNTD, giải Hồ Chí Minh viết nhiều tác phẩm như:của vấn đề phóng dân Tâm địa thực dân, Vực thẳm thuộcdân tộc tộc địa…tố cáo CNTDthuộc địa Lựa chọn con Phương hướng pt của dân tộc trong bối đường phát cảnh thời đại mới là CNXH triển dân tộc Hoạch định con đường phát triển của dân tộc thuộc địa

8. 1. Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc. 2. Chủ nghĩa dân tộc là một3 Luận động lực lớn ở các nước đang điểm đấu tranh giành độc lập. 3. Kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế.

9. 2.1. Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khảxâm phạm của tất cả các dân tộc-nội dung cốt lõicủa vấn đề dân tộc thuộc địa Cách tiếp cận từ quyền con người, tìm hiểu và tiếp cận với “Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ” và “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1791 của cách mạng Pháp”, Hồ Chí Minh đã khái quát và nâng cao thành quyền dân tộc: Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều có quyền bình đẳng,dân tộc nào cũng có quyền sống,quyền sung sướng và quyền tự do

10. “Cái quý nhất của người dân mất nước là độc lập của tổ quốc,tự do của nhân dân”Dân tộc Việt Nam chịu ách đô hộ hàng ngàn năm của phong kiến phương Bắc, hàng trăm năm của Đế quốc Pháp.Vì thế rất khát khao độc lập tự do

11. Nội dung của độc lập dân tộc:1.Độc lập, tự do là khát vọng lớn nhất của các dân tộc thuộc địa.Độc lập hoàn toàn và thật sự trên tất cả các mặt kinh tế, chínhtrị, quân sự, ngoại giao. Trong nền độc lập, mọi người đều đượcấm no, tự do, hạnh phúc.2 Độc lập thật sự phải gắn với hoà bình thật sự. “Nhân dânchúng tôi thành thật mong muốn hoà bình…kiên quyết chiếnđấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: toànvẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”.3 Độc lập dân tộc phải gắn liền với sự thống nhất toàn vẹn lãnhthổ quốc gia.

12. Tinh thần độc lập tự do được thể hiện trong suốt quá trình hình thành tư tưởng của HCM bản yêu sách 8 điểm, gửi đến Hội nghị hoà bình Vécxây năm 1919, đòi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam- Kế tiếp là thể hiện trong hàng loạt các văn kiện do Người soạn thảo: Chánhcương vắn tắt của Đảng, Lời kêu gọi sau khi thành lập Đảng CSVN (1930) Xác định mục tiêu 1- Đánh đổ ĐQ Pháp và bọn phong kiến chính trị của Đảng là 2- Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập

13. Bác về nước chủ trì Hội nghị TW8, sau đó viết thư Kính cáođồng bào và chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giảiphóng cao hơn hết thảy” Trong thực tiễn, Bác chỉ đạo thành lập Mặt trận Việt minh, ra báo Việt Nam độc lập, thảo Mười chính sách của Việt minh

14. “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơncũng phải kiên quyết giành cho được độclập!” Cách mạng Tháng 8 thắng lợi đã làm cho ý chí đó trở thành hiện thực

15. “…Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thật sự đã thành một nước tự do và độc lập tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy…”Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập

16. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ nổ Hồ Chủ Tịch ra lời kêu gọi: Hỡi đồng bào toàn quốc!Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phảinhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhânnhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vìchúng muốn cướp nước ta một lần nữa!

17. Rồi Người cùng toàn dân tộc hạ quyết tâm:Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả,chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp

18. Tóm lại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” Là tư tưởng, là lẽ sống, là học thuyết của Hồ Chí MinhĐó là lý do chiếnđấu, là nguồn sứcmạnh làm nên chiếnthắng của nhân dânViệt Nam, đồng thờicũng là nguồn độngviên đối với các dântộc bị áp bức trên thếgiới

19. 2.2. Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn ở các nước đang đấu tranh giành độc lập Xuất phát từ vị trí Xuất phát từ của người dân truyền thống thuộc địa mất dân tộc Việt nước Nam Bác đánh giá cao sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc theo nghĩa chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính, coi đó là một động lực lớn

20. Do kinh tế còn lạc hậu, chưaphát triển, nên sự phân hoá giaicấp ở Đông dương chưa triệt để Xét về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội phương Tây thời Trung cổ, cũng như thời cận đại Vì thế, cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây

21. “…Đại địa chủ,địa chủ hạng trung và hạng nhỏ ởnước ta chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh ngườicùng tên ở các nước Âu-Mỹ…Nông dân gần nhưchẳng có gì,địa chủ không có vốn lớn.Thợ thuyềnkhông có công đoàn,chủ không có tơrớt…” Như vậy, sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu Người kết luận:Đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông,chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước

22. Chủ nghĩa dt bản xứ là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dtchân chính, động lực to lớn để phát triển đất nước.Khác vớichủ nghĩa xô vanh, chủ nghĩa dt hẹp hũi của các nước lớn

23. Theo Bác, trong cách mạng giải phóng dân tộc, các dân tộc thuộc địa trước hết phải dựa vào sức của chính mình”Người ta sẽ không làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ” Bác Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứkiến nhân danh quốc tế CS…nghị với Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợiQTCS Nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành Chủ nghĩa quốc tế

24. 2.3. Kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế* Vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ với nhauNgười rất coi trọng vấn đề dân tộc nhưng luôn đứngtrên quan điểm giai cấp để giải quyết vấn đề dân tộcđồng thời đặt vấn đề giai cấp trong vấn đề dân tộc

25. * Giải phóng dân tộc tạo tiền đề cho giải phóng giai cấp Giải quyết vấn đề dân tộc trên quan điểm giai cấp,đồng thời đặt vấn đề giai cấp trong vấn đề dân tộc: “Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng,không đòi được độc lập,tự do cho toàn thể dân tộc,thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu,mà quyền lợi của bộ phận,giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”Lợi ích giai giai cấp phải phục tùng lợi ích dân tộc

26. GPDT là vấn đề trên hết,trước hếtGPDT gắn liền với CNXH HCM xác định CM Việt Nam trải qua hai giai đoạn: Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sảnNgười khẳng định: Chỉ có CNXH, CNCS mới giảiphóng được các dân tộc bị áp bức và những ngườilao động trên thế giới khỏi ách nô lệ .Nếu nướcđộc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tựdo, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì.

27. Do đó: Giành độc lập rồi, phải tiến lên CNXH Làm sao cho Mọi người được dân ăn no, mặc giàu, nước ấm, sung mạnh sướng, tự doYêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền vớiyêu CNXH, vì có tiến lên CNXH thì nhân dânmình mỗi ngày một ấm no thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm

28. Tư tưởng Hồ ChíMinh về sự gắn bó giữađộc lập dân tộc và CNXH vừa phảnánh quy luật khách quan của sự nghiệpgiải phóng dân tộc trong thời đại cáchmạng vô sản, vừa phản ánh mối quan hệkhăng khít giữa mục tiêu giải phóng dântộc với các mục tiêu giải phóng dântộc, giải phóng giai cấp, giải phóng conngười.

29. Độc lập cho dân tộc mình và cho tất cả các dân tộc khácNgười khẳng định:Quyền tự do, độc lập là quyềnbất khả xâm phạm của các dân tộc, “dân tộc nàocũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Là một chiến sĩ quốc tế chân chính, Người còn đấu tranh cho độc lập của tất cả các dân tộc bị áp bức.Tôn trọng độc lập của các dân tộc khác.

31. Người nêu cao tinh thần dân tộc tựquyết, nhưng không quên nghĩa vụ quốc tế Người giúp đỡ Ủng hộ cuộc khángthành lập các ĐCS chiến chống Nhật của ở một số nước nhân dân Trung Đông Nam Á đầu Quốc, chống Pháp củanhững năm 30, 50 nhân dân Lào và TK20 CampuchiaTheo tinh thần “Giúp bạn là giúp mình”

32. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Xuphanuvông

33. Tóm lại:Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộcvừa mang tính khoa học vừa có tính chất cách mạng sâu sắcNó phù hợp với nhận định của Ăngghen “Những tư tưởng dân tộc chân chínhtrong phong trào công nhân bao giờ cũng là những tư tưởng quốc tế chân chính”

34. Chân thành cảm ơn cô và các bạn đã chú ý lắng nghe.

Tư Tưởng Về Đại Đoàn Kết Dân Tộc / 2023

a) Về vị trí, vai trò của đại đoàn kết dân tộc

– Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, bảo đảm thành công của cách mạng:

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là tư tưởng cơ bản nhất quán và xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Đó là chiến lược tập hợp mọi lực lượng nhằm hình thành sức mạnh to lớn trong đấu tranh cách mạng để giành thắng lợi:

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công.

Đại đoàn kết dân tộc không phải là sách lược cách mạng, thủ đoạn chính trị mà là chiến lược cách mạng.

– Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng:

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong mọi đường

lối, chủ trương, chính sách của Đảng, lực lượng lãnh đạo duy nhất của cách mạng Việt Nam. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, đại đoàn kết dân tộc là mục đích hàng đầu. Đại đoàn kết dân tộc là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng, là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng. Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn quần chúng, chuyển những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành đòi hỏi tự giác, thành sức mạnh vô địch trong đấu tranh cách mạng.

b) Về nội dung, hình thức xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc

– Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân:

Hồ Chí Minh coi đại đoàn kết dân tộc là phải tập hợp được mọi người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh chung. Do đó, ai có tài, có đức, hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, nhân dân thì ta đoàn kết với họ.

Muốn thực hiện được đại đoàn kết toàn dân, phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng với con người. Đoàn kết với tất cả những người yêu nước, không phân biệt tầng lớp, thành phần dân tộc, tín ngưỡng, chính kiến….

Muốn xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc rộng lớn đó thì phải xác định rõ nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc và những lực lượng nào tạo nên nền tảng đó. Nền tảng càng được củng cổ vững chắc thì khối đại đoàn kết dân tộc càng có thể mở rộng. Đại đoàn kết là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân mà đại đa số nhân dân nước ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết.

Liên minh công nông và lao động trí óc là nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc. Nền tảng càng được củng cố vững chắc thì khối đại đoàn kết dân tộc càng có thể mở rộng.

– Mặt trận dân tộc thống nhất là hình thức tập hợp, xây dựng, tổ chức quần chúng:

Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất, thành lực lượng vật chất có tổ chức. Tổ chức thể hiện khối đoàn kết dân tộc là Mặt trận dân tộc thống nhất. Mặt trận dân tộc thống nhất là nơi quy tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, mọi người dân Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài. Mặt trận dân tộc thống nhất phải có cương lĩnh, điều lệ phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng.

Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng theo những nguyên tắc: Mặt trận được xây dựng trên nền tảng liên minh công – nông – lao động trí óc; theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, lấy việc thống nhất lợi ích tối cao của dân tộc với lợi ích của các tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố và mở rộng; đoàn kết lâu dài, chặt chẽ, thật sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái vì nước, vì dân.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đoàn Kết Toàn Dân Tộc Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh / 2023 trên website Sieuphampanorama.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!