Đề Xuất 12/2022 # Luận Bàn Về Sự Công Bằng / 2023 # Top 16 Like | Sieuphampanorama.com

Đề Xuất 12/2022 # Luận Bàn Về Sự Công Bằng / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Luận Bàn Về Sự Công Bằng / 2023 mới nhất trên website Sieuphampanorama.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Công bằng (justice) là một khái niệm luôn gây ra sự tranh cãi. Quan niệm thế nào cho đúng về sự công bằng? Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội hiện nay, cần phải nhìn nhận vấn đề công bằng như thế nào, và khả năng vận dụng vào thực tế ra sao để góp phần tạo nên sự phát triển bền vững cho xã hội.

Công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc Trong kinh tế học, người ta phân biệt hai khái niệm khác nhau về công bằng xã hội đó là: công bằng xã hội theo chiều ngang (horizontal justice) nghĩa là đối xử như nhau đối với những người có đóng góp như nhau và công bằng xã hội theo chiều dọc (vertical justice) theo nghĩa là đối xử khác nhau với những người có những khác biệt bẩm sinh, trình độ, năng lực hoặc có các điều kiện sống khác nhau. Chẳng hạn trong việc xây dựng chính sách thuế: Những người có khả năng ngang nhau cần phải đóng một khoản thuế ngang nhau (công bằng theo chiều ngang), và những người có khả năng hay thu nhập không ngang nhau cần phải áp dụng những khoản thuế khác nhau (công bằng theo chiều dọc). Thí dụ, những bác sĩ có cùng trình độ, cùng năm cống hiến phải được hưởng lương như nhau, nhưng không thể đòi hỏi lương một người bác sĩ lâu năm đã bỏ bao công lao động, học hỏi, phải ngang bằng với lương một người y tá mới ra trường.Công bằng theo nghĩa khách quan và công bằng theo nghĩa chủ quan Công bằng cũng có thể được hiểu theo hai nghĩa khác nhau là nghĩa khách quan (objective justice) hoặc nghĩa chủ quan (subjective justice) Bình đẳng về cơ hội và khuyến khích sự cạnh tranh giữa các ý tưởng Xã hội nào cũng luôn tồn tại những nhóm người yếu thế, nhóm người dễ bị tổn thương. Những đối tượng này cần phải được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, công ăn việc làm, nguồn vốn, mạng lưới an sinh nhằm góp phần kiến tạo sự công bằng về điều kiện sống và công bằng về cơ hội phát triển trong xã hội Công bằng còn được hiểu là sự tìm kiếm một môi trường mà trong đó các cơ hội là ngang bằng nhau. Chẳng hạn, trong một xã hội đa dạng, đa chiều, sự cạnh tranh giữa các ý tưởng sẽ tạo điều kiện cho các sáng kiến của cá nhân phát triển. Chính sự cạnh tranh giữa các ý tưởng là bước khởi đầu, là cơ sở quan trọng để góp phần tạo nên sự công bằng xã hội. Điều này cũng phản ánh một qui luật tất yếu: sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự phát triển. Dưới góc độ pháp lý, bình đẳng và công bằng là hai khái niệm khác nhau. Bình đẳng chỉ là yếu tố cơ bản hợp thành sự công bằng. Không ở đâu luật pháp qui định “mọi người đều bình đẳng”,vì điều đó không thể có, nhưng gần như pháp luật của quốc gia nào cũng qui định “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”. Bình đẳng trước pháp luật là điều kiện cơ bản để đạt đến sự công bằng Trong xã hội hiện đại ngày nay, để đảm bảo cho sự công bằng, cơ quan lập pháp có vai trò rất quan trọng. Lập pháp có nhiệm vụ phải tối ưu hóa mọi lợi ích của mọi thành phần xã hội (welfare maximization). Muốn vậy, phải có cơ chế giải trình, kiểm tra, giám sát và đảm bảo minh bạch thông tin. Người dân phải được quyền biết và đóng góp ý kiến vào việc hình thành, cũng như giám sátviệc thực thi pháp luật. Hoạt động hành pháp và tư pháp cũng phải dựa trên cơ sở pháp luật và đảm bảo sự vô tư (fairness), đồng thời phù hợp với tính chất, mức độ của từng quan hệ pháp lý cụ thể.

Việc thực thi hiệu quả các vấn đềnhư công bằng trong việc tiếp cận các cơ hội, công bằng trong việc gánh vác trách nhiệm chung, công bằng trong việc hưởng các quyền tự do, công bằng dựa trên chủ nghĩa cộng đồng và công bằng giữa các thế hệ sẽ góp phần kiến tạo nên một sự phát triển bền vững về nhiều phương diện ở phạm vi toàn cầu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng.” Công bằng ngày nay không chỉ là xu hướng chung trong thế giới đương đại mà còn là điều kiện cho tăng trưởng kinh tế, là tiêu chí, thước đo đánh giá mức độ phát triển bền vững của một xã hội. Mặc dù có nhiều cách quan niệm cũng như lý thuyết về sự công bằng, tuy nhiên những lý thuyết này vẫn chưa đủ để tạo ra một cách hiểu thống nhất về sự công bằng, bởi lẽ mỗi một nền văn hóa, ở không gian và thời gian khác nhau, lại xuất hiện những cách hiểu, cách đánh giá khác nhau về sự công bằng. Ngày nay trước xu thế toàn cầu hóa, hội nhập, công bằng dần được nhìn nhận trong một phạm vi rộng lớn hơn, không chỉ được hiểu là công bằng trong phạm vi quốc gia, mà hơn thế, công bằng còn được hiểu ở phạm vi quốc tế. Việc thực thi hiệu quả các vấn đề như công bằng trong việc tiếp cận các cơ hội, công bằng trong việc gánh vác trách nhiệm chung, công bằng trong việc hưởng các quyền tự do, công bằng dựa trên chủ nghĩa cộng đồng và công bằng giữa các thế hệ sẽ góp phần kiến tạo nên một sự phát triển bền vững về nhiều phương diện ở phạm vi toàn cầu.

Luận Bàn Về Khái Niệm “Vợ / 2023

Quan hệ giữa chồng vợ như thế nào để gia đình luôn hạnh phúc? Chà, với câu hỏi này, cho dù có tổ chức hàng trăm cuộc tọa đàm, hàng ngàn hội thảo, trao đổi kinh nghiệm đi chăng nữa, e cũng khó có câu trả lời dứt khoát. Đúng thế.Có những kinh nghiệm nếu áp dụng đôi lứa này có thể hóa giải vấn đề ngay lập tức nhưng với cặp đôi kia thì chẳng ép-phê gì… Dù biết thế, nhưng tôi cũng mạnh dạn kể bàn về chuyện này. Trước hết, tôi nghĩ rằng, cách khôn ngoan, khôn khéo nhất vẫn là đừng bao giờ nghĩ rằng, chàng/ nàng đang chung sống với mình đã là… chồng/vợ. Nghe trái tai chưa?

Minh họa: MINH SƠN

Vâng, thì cứ cho là thế.

Một khi đã đặt ra khái niệm “vợ – chồng” ắt dẫn theo những trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ cụ thể. Chẳng hạn, có nhiều gia đình quy định rạch ròi, chồng gánh việc lớn/ vợ lo việc nhỏ. Cuối cùng, chung sống từ năm này qua tháng nọ, họ chẳng hề thấy việc gì lớn cả. Chỉ toàn việc nhỏ. Nhỏ cỡ như đưa đón con đi học, lo việc bếp núc, chợ búa cơm nước – chỉ là chuyện lặt vặt. Không đáng kể. Hà cớ gì người chồng phải “ra tay”?

Dù cùng dành hết thời gian cho công việc ra xã hội kiếm sống nhưng rồi lúc về nhà, ai sẽ là người trước nhất có trách nhiệm quán xuyến nhà cửa? Với những câu hỏi này, khi dò hỏi các bạn bè đang làm chồng, đang đóng vai trò “trụ cột” trong nhà, lại nghe câu trả lời: “Ôi dào, việc nhỏ. Tớ chỉ lo những việc lớn”. Thế nào là việc lớn? Khó có câu trả lời dứt khoát.

Thế thì, một khi khái niệm “vợ – chồng” được đặt ra, cả vợ lẫn chồng đều chấp nhận và không gì phân bua hơn thiệt. Và họ thực hiện như một sự phân công rạch ròi. Mà cũng từ sự phân công đó, với trách nhiệm cụ thể đó, quy định rành mạch đó, do đó, khi “gặp chuyện” ắt có nguy cơ trở thành “to chuyện”.

Rằng, bấy lâu nay việc “tay hòm chìa khóa” thuộc về người vợ, ngày kia, nhân chuyện cần, người chồng hỏi đến một số tiền thì mới hay trong tủ không còn xu teng nào. Tiền đi đâu? Cô vợ mới sụt sùi cho biết do cậu em trai thiếu nợ vì làm ăn thua lỗ nên đã cho mượn. “Có đòi ngay được không?”, người chồng hỏi. Một tiếng khóc rấm rức vọng lên nhằm truyền đạt “thông điệp” não nùng: cậu em vợ đã “mất khả năng chi trả”.

Chuyện gì xảy ra?

Với suy nghĩ thông thường trong quan niệm vợ-chồng, người chồng hoàn toàn “thắng thế” qua trường hợp cụ thể này. Của chồng công vợ. Lẽ đời là vậy. Thế nhưng, vợ không thèm hỏi chồng một câu, tự tung tự tác để rồi cả hai phải đối mặt với một tình huống oái oăm, khó gỡ. Vậy nên, người chồng có quyền chỉ trích, phê phán? Tất nhiên. Sau những gây gỗ ấy, tình hình sẽ tồi tệ hơn là cái chắc.

Thế nhưng, khi rơi vào trường hợp này, anh chàng này, chỉ xem vợ như… cô em gái. Nhờ thế, cách giải quyết bao dung hơn mà cũng ổn thỏa hơn. “Chuyện đã thế, cứ xem cô ấy như cô em út bé bỏng mà mình phải yêu thương và dạy dỗ chu đáo hơn để lần sau không tái phạm”, có người tâm tình. Nếu lúc ấy với quan niệm rạch ròi về trách nhiệm chồng-vợ đã xác lập về mặt pháp lý, chắc chắn sự việc sẽ hướng theo cách giải quyết khác. Dù hướng nào đi nữa thì cái lý vẫn nặng hơn cái tình. Một khi đã xem vợ như em gái, người chồng không “thèm chấp”, có thể là vậy nhưng căn bản nhất vẫn là lúc họ lấy cái tình, lấy lòng yêu thương để tìm giải pháp cần thiết.

Không chỉ thế, theo tôi, thứ nhất, điều quan trọng nhất trong giao tiếp vợ chồng là tránh dùng những ngôn từ dễ gây hiểu nhầm. Sự hiểu nhầm đáng tiếc nhất, chết người nhất nếu ngôn từ đó xúc phạm đến người bạn đời. Khi bị xúc phạm thì họ rất khó tha thứ. Thứ hai, trong đời sống hôn nhân bao giờ cũng có sự gây gổ, “cơm không lành canh không ngọt”, trong những tình huống đó, xử lý như thế nào cũng là một nghệ thuật. Theo tôi cách tốt nhất là chọn một thời điểm thích hợp để giải quyết mâu thuẫn đó. Cũng lời nói đó, cũng ngữ điệu đó, cũng âm thanh đó, nếu nói trong một bối cảnh khác, lúc khác thì sẽ đem lại hiệu quả và ngược lại… Tôi khuyên các đấng mày râu, khi có lỗi hãy mạnh dạn nói với vợ một cách chân tình: “Anh xin lỗi em!”.

Trước đây, khi đọc câu thơ: “Em chỉ là người em gái thôi/ Người em sầu mộng của muôn đời” (Lưu Trọng Lư), ai cũng nghĩ thơ tình đôi lứa. Đúng vậy. Tại sao không áp dụng cho cả lúc cả hai đã trăm năm xe duyên kết tóc?

Một khi đã xác định mối quan hệ và suy nghĩ ấy, tôi nghĩ, âu cũng là một trong những biện pháp tích cực để vun vén cho mái ấm. Bạn có đồng tình?

LÊ MINH QUỐC

Bàn Về Khái Niệm “Dư Luận Xã Hội” / 2023

Dư luận xã hội (hay công luận) là một hiện tượng đời sống xã hội quen thuộc mà mỗi cá nhân, tổ chức (bao gồm cả quốc gia), trong cuộc sống hàng ngày, thường phải quan tâm và tính toán đến. Những người theo học ở Liên Xô (cũ) thường sử dụng thuật ngữ “dư luận xã hội” (dịch trực tiếp từ thuật ngữ tiếng Nga). Những người biết tiếng Anh thường sử dụng thuật ngữ “công luận” (dịch từ thuật ngữ tiếng Anh: “public opinion”).

Phần đông các nhà nghiên cứu dư luận xã hội Liên Xô (cũ) định nghĩa dư luận xã hội (DLXH) là sự phán xét, đánh giá của các giai cấp, tầng lớp, cộng đồng xã hội đối với các vấn đề mà họ quan tâm. Ví dụ, theo B. K. Paderin: “Dư luận xã hội là tổng thể các ý kiến, trong đó chủ yếu là các ý kiến thể hiện sự phán xét đánh giá, sự nhận định (bằng lời hoặc không bằng lời), phản ánh ý nghĩa của các thực tế, quá trình, hiện tượng, sự kiện đối với các tập thể, giai cấp, xã hội nói chung và thái độ công khai hoặc che đậy của các nhóm xã hội lớn nhỏ đối với các vấn đề của cuộc sống xã hội có động chạm đến các lợi ích chung của họ”.

Nhiều nhà nghiên cứu Mỹ cũng nêu ra định nghĩa tương tự. Ví dụ: “Công luận là sự phán xét đánh giá của các cộng đồng xã hội đối với các vấn đề có tầm quan trọng, được hình thành sau khi có sự tranh luận công khai” (Young, 1923). “Công luận là kết quả tổng hợp các ý kiến trả lời của mọi người đối với các câu hỏi nhất định, dưới điều kiện của cuộc phỏng vấn” (Warner, 1939). Có những định nghĩa rất đơn giản, nhưng rất phổ biến trong giới nghiên cứu Mỹ: “Công luận là các tập hợp ý kiến cá nhân ở bất kỳ nơi đâu mà chúng ta có thể tìm được” (Childs, 1956).

Về mặt ngôn ngữ, không có cơ sở để nói rằng DLXH là ý kiến của đa số. Thuật ngữ “xã hội” không đồng nhất với thuật ngữ “đa số”. Ví dụ: Không ai cho rằng đã gọi là tổ chức xã hội thì phải là tổ chức của đa số; đã gọi là chính sách xã hội thì phải là chính sách đối với đa số…

Về mặt lý luận, cũng không có cơ sở nào để coi trọng dư luận của đa số hơn dư luận của thiểu số, đến mức phải loại bỏ dư luận của thiểu số ra khỏi phạm trù “dư luận xã hội”. Ví dụ, dưới góc độ về khả năng phản ánh chân lý, dư luận của đa số không phải khi nào cũng đúng, dư luận của thiểu số, không nhất thiết khi nào cũng sai. Thực tế cho thấy, trước các vấn đề mới, dư luận của thiểu số, nhiều khi, đúng hơn dư luận của đa số. Giữa dư luận của đa số và dư luận của thiểu số cũng không có một hàng rào ngăn cách không thể vượt qua được. Dư luận ngày hôm nay là thiểu số, ngày mai có thể trở thành đa số hoặc ngược lại, dư luận ngày hôm nay là đa số, ngày mai có thể chỉ còn là thiểu số.

Về mặt thực tiễn, quan điểm coi DLXH chỉ là ý kiến của đa số lại càng không thể chấp nhận được. Chúng ta đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và thực hiện chủ trương “Đại đoàn kết toàn dân tộc”. Tiếng nói của mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp, nhóm xã hội đều cần được coi trọng cho dù thành phần kinh tế, tầng lớp, nhóm xã hội đó chỉ là thiểu số trong xã hội. Mặt khác, nếu DLXH chỉ là ý kiến của đa số không thôi, thì không cần phải thành lập các cơ quan làm công tác nắm bắt DLXH, bởi vì ý kiến của đa số là cái mà người dân bình thường cũng có thể dễ dàng nắm được. Báo cáo tình hình DLXH của một số địa phương chưa được lãnh đạo coi trọng, có phần chính là do mới chỉ phản ánh được ý kiến của đa số. Những báo cáo phiến diện, không phản ánh được đầy đủ các luồng ý kiến khác nhau trong xã hội trước một vấn đề, sự kiện, hiện tượng nào đó, không những ít có giá trị cho sự chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, ngược lại, có khi còn có hại, nhất là trong trường hợp vấn đề, sự kiện, hiện tượng là cái mới, bởi lẽ, đối với cái mới, dư luận của đa số lúc đầu thường không đúng, thường có tính “bảo thủ”.

Cũng có những ý kiến khác nhau khi phân tích hình thức ngôn ngữ của DLXH. Một số nhà nghiên cứu chỉ coi các phán xét đánh giá của công chúng mới là DLXH. Phán xét có nhiều loại như phán xét mô tả – dùng để mô tả sự vật, ví dụ: “Đây là bông hồng bạch”, “Đây là cuộc mít tinh lớn”…; phán xét quy ước – loại phán xét thông dụng trong các văn bản pháp qui, ví dụ: “Mọi người dân phải có trách nhiệm giữ gìn vệ sinh môi trường”…. Phán xét đánh giá là loại phán xét thể hiện thái độ (tán thành – không tán thành; yêu – ghét…) của chủ thể đối với sự kiện, hiện tượng, đối tượng, ví dụ: “Tham nhũng là biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về đạo đức, lối sống”; “Công tác giữ gìn vệ sinh môi trường của Hà Nội trong mấy năm qua có tiến bộ rõ nét”…. Tuy nhiên, đại đa số các nhà nghiên cứu khẳng định, DLXH không chỉ là các phát ngôn thể hiện sự phán xét đánh giá mà còn là các phát ngôn thể hiện tâm tư, nguyện vọng, đề xuất, kiến nghị, lời khuyên can… của công chúng.

Cũng có sự nhầm lẫn giữa DLXH và tin đồn. Một số người không phân biệt được giữa DLXH và tin đồn có những sự khác nhau gì. Giữa tin đồn và DLXH có những điểm khác biệt cơ bản sau đây: 1) Nguồn thông tin: nguồn thông tin của tin đồn bao giờ cũng xuất phát từ người khác (tôi nghe người này nói, người kia nói); nguồn thông tin của DLXH lại xuất phát từ chính là bản thân người phát ngôn (theo ý kiến của tôi thì…); 2) Tin đồn loang càng xa thì càng có nhiều biến thái, do nó không ngừng được thêm thắt. Lúc ban đầu, DLXH thường rất phân tán, nhưng sau đó, thông qua sự trao đổi, tranh luận, tính thống nhất của DLXH thường tăng lên; 3) Tin đồn thường có tính “thất thiệt” (mặc dù có những tin đồn về cơ bản là sự thật), trong khi đó, DLXH phản ánh trung thực về suy nghĩ, tình cảm, thái độ của chủ thể. Tuy nhiên, giữa DLXH và tin đồn không có sự ngăn cách không vượt qua được. Tin đồn có thể làm nảy sinh DLXH khi trên cơ sở tin đồn người ta đưa ra những phán xét đánh giá bày tỏ thái độ của mình. Tin đồn thường xuất hiện khi người ta thiếu (hoặc thừa) thông tin.

Về khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải của DLXH, cũng có những quan niệm khác nhau. Có ý kiến cho rằng DLXH chịu ảnh hưởng nặng nề của các thành kiến, định kiến cho nên nó không có khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải. Có ý kiến lại “sùng bái” dư luận của đa số, theo họ, dư luận của đa số bao giờ cũng đúng, dư luận của thiểu số bao giờ cũng sai. Tất cả các quan niệm trên đều sai. DLXH không phải là các kết luận khoa học, nhưng ít nhiều đều có khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải. DLXH có thể đúng nhiều, đúng ít. Dù có đúng đến mấy thì DLXH vẫn có những hạn chế, không nên tuyệt đối hóa khả năng nhận thức của DLXH. Dù có sai đến mấy, trong DLXH cũng có những hạt nhân hợp lý, không thể coi thường, bỏ qua. Chân lý của DLXH không phụ thuộc vào tính chất phổ biến của nó. Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng, dư luận của thiểu số cũng sai. Cái mới, lúc đầu, thường chỉ có một số người nhận thấy và do đó dễ bị đa số phản đối.

Đối với câu hỏi: DLXH là tập hợp các ý kiến cá nhân, có tính tự phát hay là một dạng thức ý kiến tập thể, có tính tổ chức? Cũng có những quan niệm khác nhau. Có người khẳng định vế thứ nhất, có người khẳng định vế thứ hai. Sự vô lý của quan niệm coi DLXH là một dạng thức ý kiến tập thể, có tính tổ chức là rất rõ. Ý kiến chung của một tổ chức là chính kiến của tổ chức đó chứ không phải là DLXH của các thành viên trong tổ chức (không thể gọi chính kiến của Hội Nông dân, Hội Phụ nữ… là DLXH). Chỉ có các luồng ý kiến được hình thành theo con đường tự phát mới được gọi là DLXH. Tuy nhiên ở đây cần phải làm rõ một ý: DLXH không phải là một phép cộng thuần túy, không phải là “bao gạo”, gồm các “hạt gạo” ý kiến cá nhân rời rạc, không có mối quan hệ gì với nhau. DLXH là các luồng ý kiến cá nhân, tự phát, nhưng có mối quan hệ hữu cơ với nhau, cộng hưởng với nhau. Nói cách khác, đó là một chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội nhất định.

DLXH là hiện tượng đời sống xã hội phức tạp, nên khó có thể lột tả hết trong một vài dòng định nghĩa ngắn gọn. Theo Lênin, đối với những sự vật phức tạp, có nhiều góc nhiều cạnh, mọi định nghĩa đều phiến diện. Tuy nhiên, dù có phiến diện đến đâu, định nghĩa cũng không mất đi mặt khẳng định, vai trò quan trọng, sự cần thiết của nó đối với hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của con người. Đó là những chỉ dẫn sơ bộ, những nét phác thảo ban đầu, không có nó, chúng ta không thể tiếp tục đi sâu hơn vào bản chất của sự vật cũng như không thể đưa ra đuợc những phương hướng hành động cụ thể nào cả.

Vì lẽ đó, chúng ta có thể định nghĩa rất ngắn gọn về DLXH như sau: DLXH là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự. Tuy nhiên, cần phải lưu ý đến các nội hàm sau đây của định nghĩa này: 1) Mỗi luồng ý kiến là một tập hợp các ý kiến cá nhân giống nhau; 2) DLXH có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau; 3) Luồng ý kiến có thể rộng (tuyệt đại đa số, đa số, nhiều ý kiến) hoặc hẹp (một số ý kiến); 4) DLXH là tập hợp các ý kiến cá nhân, tự phát, chứ không phải là ý kiến của một tổ chức, được hình thành theo con đường tổ chức (hội nghị, hội thảo…); 5) DLXH không phải là một phép cộng các ý kiến cá nhân, tự phát mà là một chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội nhất định; 6) Chỉ có những sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội có tính thời sự (động chạm đến lợi ích, các mối quan tâm hiện có của nhiều người) mới có khả năng tạo ra DLXH./.

Theo TS. Phạm Chiến Khu/Tạp chí Tuyên giáo

Luận Bàn Về Kỹ Thuật Canh Tác Vườn Rừng / 2023

Rừng tồn tại tốt mà không cần cắt cỏ, nhổ cỏ, phun thuốc hoặc đào. Không có thuốc trừ sâu, phân bón, thuốc diệt cỏ hoặc hóa chất khó chịu. Không có công việc và cũng . Rừng bằng cách nào đó làm rất tốt mà không cần đến sự chăm sóc của con người. không có người

Bây giờ, hãy tưởng tượng nếu tất cả mọi thứ trong khu rừng tuyệt đẹp, phong phú, ngoạn mục này có !

Nếu bạn có thể tưởng tượng nó sẽ trông như thế nào, nếu bạn có thể hình dung điều này trong mắt bạn, thì bạn không còn xa dấu hiệu của một khu rừng thực phẩm như thế nào trong cuộc sống thực.

Bằng cách hiểu làm thế nào rừng phát triển và tự duy trì mà không cần sự can thiệp của con người, chúng ta có thể học hỏi từ Thiên nhiên, sao chép các hệ thống và mô hình để mô hình hóa các khu rừng của chính chúng ta – những cây chứa đầy cây và thực vật sản xuất thức ăn chúng ta có thể ăn.

Chúng ta có thể thiết kế và xây dựng các hệ thống sản xuất thực phẩm bền vững nhất có thể; được hoàn thiện, tinh chế và chăm sóc bởi chính mẹ thiên nhiên.

Nếu khái niệm này đưa ra bất kỳ nghi ngờ hoặc hoài nghi nào cho bạn về việc liệu đây có phải là thứ hoạt động trong cuộc sống thực hay không, hãy để tôi trấn an bạn rằng rừng thực phẩm là một khái niệm đã được chứng minh . Vâng, họ đang hoạt động trên khắp thế giới và thậm chí họ còn làm việc ở khu vực thành thị. Tôi nên biết, tôi thiết kế và xây dựng chúng!

Vì vậy, có lẽ bạn đang tự hỏi làm thế nào tất cả hoạt động, lợi ích là gì, hiệu quả hơn hay hiệu quả hơn so với các hệ thống nông nghiệp thương mại thông thường, v.v.

Chà, chúng tôi sẽ giải quyết tất cả những câu hỏi này và hơn thế nữa khi chúng tôi khám phá trường hợp về rừng thực phẩm trong bài viết này, vì vậy tôi hoan nghênh bạn đọc tiếp!

Tại sao là rừng ?

Rừng là nơi sinh sống của khoảng 50-90% tất cả đa dạng sinh học trên cạn (sống trên cạn) trên thế giới – bao gồm các loài thụ phấn và họ hàng hoang dã của nhiều loại cây nông nghiệp ( Nguồn: Báo cáo Hành tinh Sống của WWF 2010 )

Chỉ riêng rừng nhiệt đới được ước tính chứa từ 10-50 triệu loài – hơn 50% số loài trên hành tinh .

Rừng mưa nhiệt đới chiếm 2% bề mặt Trái đất và 6% khối lượng đất liền, nhưng chúng là nhà của các loài động thực vật trên thế giới.

Từ những sự thật cơ bản này, rõ ràng là chính các khu rừng đồng nghĩa với sự sống, đa dạng sinh học và khả năng sinh sản.

Nơi cuộc sống tập hợp, các mối quan hệ phức tạp và cùng có lợi được tạo ra giữa các sinh vật; cộng đồng hài hòa tự nhiên hình thành, và cuộc sống hình thành nhân lên và sinh sôi nảy nở.

Nếu rừng là nơi có hầu hết sự sống trên hành tinh, thì bất cứ thứ gì ít hơn một khu rừng rất có thể ít phù hợp với việc hỗ trợ sự sống.

Cuộc sống hỗ trợ cuộc sống, nhưng chúng ta đã quên rằng thực tế chúng ta là một phần của mạng lưới cuộc sống và phụ thuộc vào cuộc sống khác để duy trì cuộc sống của chúng ta.

Con người phá rừng để tạo ra ‘ . Từ này xuất phát từ ý tưởng rằng mọi thứ trong khu vực đã bị ‘ – điều đó đã bị cắt giảm và xóa sạch. Trong những khu vực bị xóa chúng tôi xây dựng thành phố và trang trại.

Bạn thấy bao nhiêu cuộc sống và đa dạng sinh học trong môi trường xung quanh của bạn hàng ngày so với những gì tồn tại trong một khu rừng? Câu trả lời nên rõ ràng và khái niệm “rừng là tiên đề”.

Cây cối từng bao phủ gần như toàn bộ khối đất của Trái đất, ngày nay chúng chiếm khoảng 3,9 tỷ ha hoặc chỉ hơn 9,6 tỷ mẫu Anh, chỉ chiếm khoảng 29,6% tổng diện tích đất của Trái đất.

Ngày nay, chỉ còn lại ba khu rừng lớn trên Trái đất: Rừng Amazon của Brazil và các khu rừng phương bắc ở Nga và Canada.

Cây đã tồn tại lâu hơn nhiều so với nhân loại. Tất cả dầu và than mà chúng ta đang đốt cháy với tốc độ điên cuồng được hình thành từ tàn dư của những khu rừng cổ, hàng triệu năm tuổi, đó là lý do tại sao chúng được gọi là nhiên liệu hóa thạch!

Chúng ta là những người mới đến tương đối trên hành tinh này, nhưng chúng ta nghĩ từ quan điểm của một đời duy nhất, và thường là từ khoảng thời gian ngắn hơn nhiều.

Rừng đã hình thành một hệ sinh thái cân bằng kéo dài cả chiều dài và chiều rộng của hành tinh từ lâu trước khi loài người xuất hiện, nhưng bây giờ các khu rừng đang ở trong tình trạng đáng thương.

Những gì chúng ta dường như quên là những khu rừng này chịu trách nhiệm chăm sóc và nuôi dưỡng tất cả sự sống trên hành tinh này ở điểm này hay điểm khác, và vẫn hoạt động như hệ thống hỗ trợ sự sống của hành tinh.

Với 460 triệu năm kinh nghiệm và một khu vườn 9,6 tỷ mẫu Anh, Mẹ thiên nhiên đã tinh chỉnh cách phát triển các khu vườn tự duy trì tốt hơn bất kỳ ai! Không làm cỏ, phun thuốc hoặc tưới nước !!!

Thiên nhiên đã hỗ trợ, cho ăn, mặc quần áo và che chở cho nhân loại 95% sự tồn tại của nó – nông nghiệp chỉ mới xuất hiện lần đầu tiên 10.000 năm trước.

Đây là nơi một số quan điểm thực tế có thể thay đổi hoàn toàn cách nhìn của chúng ta về thế giới và ý thức của chúng ta về vị trí của nó trong đó.

Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, khi chúng ta muốn học cách làm một cái gì đó, chúng ta thường (hy vọng!) Có ý định làm bất cứ điều gì mà chúng ta muốn làm tốt! Đó là, với một mức độ năng lực, hiệu quả và hiệu quả. Chúng ta thậm chí có thể phấn đấu để làm chủ, theo đuổi mục tiêu khó nắm bắt của sự hoàn hảo.

Đây dường như là trường hợp cho dù chúng ta đang học chơi một môn thể thao, theo đuổi một sở thích mới hoặc bắt đầu một doanh nghiệp nghiêm túc.

Rõ ràng, nơi tốt nhất để bắt đầu là xem ai đó đã thực hiện những gì chúng tôi đang cố gắng thực hiện chưa, và sau đó chúng tôi tìm kiếm điều tốt nhất để học hỏi.

Theo định nghĩa, một ví dụ là một mô hình hoặc mô hình sẽ được sao chép hoặc bắt chước.

Nếu chúng ta học chơi một môn thể thao, tự nhiên chúng ta sẽ không muốn làm người mẫu nghiệp dư hoặc bất tài.

Thay vào đó, chúng tôi chọn bắt chước các nhà vô địch trong khu vực. Vì vậy, những gì làm cho họ vô địch? Quy mô và chất lượng thành công, kinh nghiệm và thông tin của họ.

Hãy nghĩ về người làm vườn giỏi nhất mà bạn biết, họ có bao nhiêu kỹ năng, kinh nghiệm và thành công dưới vành đai của họ? Họ đã nghĩ ra hệ thống cây trồng nào và những hệ thống này bền vững đến mức nào? Họ năng lượng hay năng lượng trung tính ?

Bây giờ, hãy phản ánh lại với chính mẹ thiên nhiên, hàng trăm triệu năm trồng mỗi loại cây tồn tại , phát triển mạnh mà không cần sự can thiệp của con người (không có sự tồn tại của con người cho phần lớn nhất), mà không cần bất kỳ nguồn năng lượng nào ngoài các hệ thống tự nhiên được cung cấp – thực sự một mẫu mực cho mô hình.

Chúng ta làm gì sau đó như một người dân? Điều phi logic nhất có thể tưởng tượng, tất nhiên! Chúng tôi cố gắng để phát minh lại bánh xe. Nhưng chúng ta không chỉ cố gắng làm điều phi lý và phù hợp với bản chất, chúng ta tự ảo tưởng rằng chúng ta có thể có bản chất trong cuộc sống ngắn ngủi đáng kể của chúng ta, trong xã hội công nghiệp ngắn đáng kể của chúng ta, trong thời gian thử nghiệm ngắn không đáng kể của chúng ta. được thực hiện bởi xã hội loài người thậm chí là một khả thi!

Con người trong xã hội hiện đại có quan niệm sai lầm rằng thiên nhiên phải được chiến đấu, chinh phục và kiểm soát.

Điều đó khác xa với các xã hội cổ đại hoặc ‘nguyên thủy’ hơn, những người coi Trái đất là Mẹ của họ. Một điểm thú vị để suy ngẫm.

Cải thiện về tự nhiên ??? Nếu đây là một sự cải thiện trong một khu rừng để duy trì sự sống, tôi nghĩ chúng ta đang gặp rắc rối.

Nông nghiệp hiện đại tạo ra các nền độc canh không cân bằng được bảo tồn thông qua chiến tranh hóa học không ngừng .

Không chỉ chúng ta đang làm một công việc tồi tệ mà chúng ta còn đầu độc cả Thiên nhiên và chính chúng ta .

Chắc chắn chúng ta có thể làm tốt hơn so với độc canh trồng cây trần sau 10.000 năm hành nghề nông nghiệp?

Thiên nhiên được gọi là ‘Mẹ thiên nhiên’ vì một lý do, đó là những gì mẹ chúng ta; được cho ăn, mặc quần áo và che chở chúng ta trong phần lớn thời gian tồn tại tương đối ngắn trên hành tinh này.

Viễn cảnh có thể là một điều đe dọa đến tâm trí uể oải của chúng ta! Ở đâu đó, chúng ta mất đi sự tôn kính đối với Thiên nhiên, niềm tin vào sự kết nối với mọi sinh vật và cảm giác hòa hợp với môi trường xung quanh.

Chúng ta loại bỏ những niềm tin ‘nguyên thủy’ bởi vì chúng ta đã đạt được ‘tiến bộ’. Chúng ta đã có ‘Thời đại giác ngộ’, theo tôn giáo của chủ nghĩa duy lý, nơi chúng ta trao đổi sự tôn kính với Thiên nhiên với sự tôn kính không đúng chỗ đối với tâm trí con người, và trong khi chúng ta nằm trên bàn thờ của lý luận con người, chúng ta đã mất vị trí của mình thế giới.

Ở trong một nơi cao quý như vậy có nghĩa là chúng ta cai trị Thiên nhiên, và nếu nó không vâng lời, chúng ta sẽ đánh bại nó để phục tùng.

Chúng ta có thể cười vào câu chuyện có thật về Hoàng đế La Mã Caligula đã tuyên bố mình là một vị thần và bị biển quất bằng dây xích vì sự bất tuân của nó, nhưng cách tiếp cận của con người hiện đại với Thiên nhiên – như một thứ gì đó để chiến đấu, chinh phục và kiểm soát.

Những cuộc chiến tranh tàn bạo cùng chúng tôi tiến hành vào nhau, với vũ khí chết người tương tự, chúng tôi làm gì để thiên nhiên cũng có.

Chúng ta tiến hành c hiến tranh hóa học và sinh học trên Trái Đất và các sinh vật sống. Trong khi nó dường như là vô ích nhất, vô nghĩa và phá hoại của chiến tranh, chúng ta thậm chí gây thiệt hại cho chính chúng ta.

Đó là sự thiển cận của loài người chúng ta. Với quan điểm con người là tâm điểm, nơi mà mọi thứ xoay quanh nhân loại.

Nhân loại có lỗi chung khi cố gắng vặn vẹo và làm biến dạng sự thật về cách tự nhiên hoạt động để phù hợp với những gì chủ yếu là những tâm trí khép kín chứa đầy niềm tin sai lầm.

Những niềm tin bị bóp méo là rất thực tế. Các nhà công nghệ sinh học tin chắc rằng ‘sự cứu rỗi’ của nhân loại nằm trong các loại cây trồng chủ lực của h ọ ‘kỹ thuật’ thông qua chỉnh sửa gen để cung cấp tất cả các nhu cầu của chúng ta và cứu nhân loại khỏi nạn đói .

Gọi tôi là phê phán, nhưng những tuyên bố này không khoa học, và là một người có trình độ khoa học, tôi thẳng thắn thấy những tuyên bố này gây khó chịu, vì chúng chỉ đơn giản là ‘tuyên bố dựa trên đức tin’ mà không có bằng chứng nào hỗ trợ cho tính xác thực của những tuyên bố đó, giả mạo như khoa học.

Trong khi đó, các tập quán nông nghiệp truyền thống đang phá hủy các vùng đất rộng lớn thông qua xói mòn đất, nhiễm mặn, lạm dụng phân bón hóa học , phá hủy các hệ sinh thái hỗ trợ (ví dụ như mang lại mưa).

Nếu một người cởi bỏ những cái chớp về ý thức hệ và bước ra ngoài bối cảnh của thời đại và xã hội hiện tại của chúng ta, thì rõ ràng là chúng ta đang hướng đến một ngõ cụt và nhanh chóng đạt được tốc độ, đẩy nhanh một kết luận đáng ngại.

Chỉ để thêm một chút góc nhìn vào bức tranh về sự mất mát của loài người, tôi đã nghe các học giả tranh luận về ‘phong trào xanh’, đưa ra lập luận phi lý rằng bản chất của Hồi (và do đó, cuộc sống) đối với tính nhân văn của nó. không có giá trị nào

Bây giờ, nếu bất cứ ai nghĩ rằng con đường hiện tại là cải thiện về bản chất, và đã đặt niềm tin vào quá trình này, tôi nghiêm túc kêu gọi họ kiểm tra nghiêm túc thế giới quan của họ.

Nếu bạn có thể thấy rằng mọi thứ không hoàn toàn đúng, nhưng muốn trở thành một phần của giải pháp chứ không phải là một phần của vấn đề, thì hãy đọc tiếp!

Tại sao phải phát minh lại bánh xe khi một cái tốt hơn đã tồn tại, hãy nhìn vào Thiên nhiên!

Một khu rừng thực phẩm thường bao gồm bảy lớp, lớp trên cùng là lớp tán.

Tầng tán bao gồm những cây cao – điển hình là cây ăn quả và hạt lớn.

Ẩn mình giữa tất cả những cây nhỏ là những cây bụi – được thể hiện tốt bởi nho và quả mọng.

Lấp đầy không gian còn lại là lớp thảo mộc, đây là các loại thảo mộc ẩm thực và dược liệu, cây trồng đồng hành, cây cỏ ong và cây gia cầm.

Bất kỳ không gian còn lại được chiếm bởi các nhà máy che phủ mặt đất.

Chúng tạo thành một lớp phủ sống bảo vệ đất, giảm mất nước cho sự bốc hơi và ngăn ngừa cỏ dại phát triển.

Chúng ta vẫn có thể đi sâu hơn vào vùng rễ, hoặc vùng rễ, tầng ngầm được chiếm giữ bởi tất cả các loại cây trồng của chúng ta, chẳng hạn như khoai tây, cà rốt, gừng, yacon, v.v. không gian, chúng ta vẫn còn một cái nữa để lấp đầy, không gian thẳng đứng.

Điều này được lấp đầy bởi những người leo núi và dây leo, có thể chạy lên giàn, arbours, hàng rào, cây hoặc bất kỳ hỗ trợ dọc nào khác.

Bây giờ có rất nhiều quan niệm sai lầm về những gì một khu rừng thực phẩm thực sự là tôi muốn làm rõ.

Hàng cây không phải là rừng thực phẩm . Họ thay vào đó là những gì được mô tả như một vườn cây.

Hàng cây với một số loại cây khác bên dưới không phải là rừng thực phẩm , chúng là những vườn cây ăn trái.

Hàng cây với những hàng cây khác xen kẽ giữa chúng không phải là rừng thực phẩm , chúng là những vườn cây sử dụng xen canh.

Một khu rừng thực phẩm của tôi không nhất thiết phải có tất cả bảy lớp, nhưng nó có nhiều lớp, và thậm chí quan trọng hơn, nó là một hệ sinh thái sống gần như tự duy trì.

Những lợi ích được nhận ra từ rừng thực phẩm như sau:

Năng suất cao

Trồng mật độ cao đảm bảo năng suất cao.

Đa dạng sinh học đảm bảo cung cấp thực phẩm liên tục trong suốt cả năm.

Mulch tự nhiên, phân bón và phân bón

Cũng giống như một khu rừng, rừng thực phẩm tự mùn và tự phủ đất để giữ độ ẩm.

Với mật độ cây cao như vậy, một khối lượng lớn lá rụng tích tụ và thối rữa xuống để thêm chất hữu cơ vào đất.

Phân hủy, lớp côn trùng phá vỡ các chất hữu cơ, chẳng hạn như giun đất, rận gỗ (bọ thuốc, đá phiến) và động vật nhiều chân, hoạt động để giúp quá trình ủ phân tự nhiên.

Kiểm soát dịch hại tự nhiên

Không cần hóa chất! Rừng thực phẩm sử dụng động vật săn mồi tự nhiên để loại bỏ sâu bệnh – để các chuyên gia thực hiện công việc một cách tự nhiên.

Côn trùng săn mồi có một ngôi nhà vĩnh viễn (một hệ sinh thái tự nhiên) và nguồn thức ăn phong phú (hoa giàu mật hoa) trong một khu rừng thực phẩm. Cung cấp những thứ này và họ sẽ tự đến! Một miếng vá rau thông thường là ngôi nhà chỉ dành cho côn trùng dịch hại, không có nơi nào có bọ tốt để sống!

Một hệ sinh thái phong phú, sống động sẽ thu hút các loài chim và các loài săn mồi lớn hơn, góp phần hơn nữa trong việc kiểm soát dịch hại tự nhiên.

Khả năng phục hồi thông qua đa dạng sinh học – Sức mạnh về số lượng

Việc sử dụng cho phép chúng tôi tái tạo đa dạng sinh học của thiên nhiên để đạt được những lợi ích này

Sửa chữa đất dễ dàng – Chop n ‘Drop

Trong tự nhiên, khi thực vật chết đi, chúng ở nguyên vị trí. Họ không bị buộc tội và bị phạt! Đừng nhổ cây hàng năm đã hoàn thành, cắt thân cây ở đất . Rễ cây quay đi để tạo ra hàng ngàn kênh không khí và nước phức tạp trong đất. Phần ngọn của cây được cắt nhỏ tạo ra một hệ thống phân ủ tự nhiên như nền rừng

Để tất cả chúng cùng nhau…

Một khu rừng thực phẩm được xây dựng để mô phỏng một khu rừng thực sự – chỉ có chúng tôi lấp đầy nó bằng những cây thực phẩm và cây mà chúng tôi muốn.

Rừng thực sự không cần bất kỳ công việc nào, chúng tự duy trì – không có thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, làm cỏ, luân canh, cắt cỏ hoặc đào. Rừng thực phẩm cũng không cần bất kỳ thứ gì trong số này! Ít làm việc, nhiều thức ăn, tất cả đều tự nhiên! Tại sao bạn lại làm gì khác?

Bạn đang đọc nội dung bài viết Luận Bàn Về Sự Công Bằng / 2023 trên website Sieuphampanorama.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!