Đề Xuất 6/2023 # Nhà Đầu Tư Nước Ngoài Là Gì? # Top 15 Like | Sieuphampanorama.com

Đề Xuất 6/2023 # Nhà Đầu Tư Nước Ngoài Là Gì? # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nhà Đầu Tư Nước Ngoài Là Gì? mới nhất trên website Sieuphampanorama.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tại Dự thảo Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp (DN), khái niệm “nhà đầu tư nước ngoài” và “DN có vốn đầu tư nước ngoài” (FDI) là những khái niệm gây nhiều tranh cãi nhất. Khái niệm này cũng đã từng được đề cập tại Luật Đất đai, Luật Chứng khoán. Câu hỏi đặt ra là: Khái niệm này có nhất thiết phải khó hiểu như vậy không? Có phản ánh tâm lý lo ngại bị nhà đầu tư nước ngoài thôn tính, hay bảo hộ DN trong nước. Cả hai lý do này nghe chừng có lý đối với một nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam, song thực tế lại không cần thiết.

Theo dự thảo thứ 10 của Luật Đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài bao gồm DN nước ngoài và DN trong nước có tỷ lệ góp vốn của nước ngoài trên 49%, song ở một điều khoản khác thì lại quy định rằng: “Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện đầu tư tại Việt Nam”.

Bên cạnh đó, nhiều luật chuyên ngành, ví dụ Luật Dược quy định, phân phối dược là lĩnh vực chưa cam kết, vì vậy có địa phương cho rằng, chỉ cần 1% vốn đầu tư nước ngoài vào DN, thì DN đó đã bị coi như DN có vốn đầu tư nước ngoài và bị từ chối mở rộng hoạt động, hay chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc.

Theo dự thảo Luật Doanh nghiệp, thì nhà đầu tư nước ngoài là DN có số vốn của nước ngoài nắm trên 50% (mặc dù không rõ là nắm trực tiếp, hay nắm gián tiếp thông qua một DN có vốn đầu tư nước ngoài). Theo Quyết định 121 về nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, thì tổ chức nước ngoài phải là tổ chức nắm đến 100% vốn nước ngoài. Tại một số hội thảo góp ý cho Luật Doanh nghiệp, có quan điểm cho rằng, tỷ lệ góp vốn có thể giảm xuống 10% để coi là nhà đầu tư nước ngoài.

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu một DN trong nước trở thành “nhà đầu tư nước ngoài”?

Thứ nhất, theo quy định hiện hành, DN đó sẽ phải xin giấy chứng nhận đầu tư. Điều này đồng nghĩa với một loạt giải trình, chi phí và thời gian tăng đáng kể.

Thứ hai, nhiều ngành nghề “nhạy cảm” do chưa có quy định thực hiện (chẳng hạn như nhập khẩu dược phẩm), hay quy định không rõ ràng (quy định ENT đối với doanh nghiệp bán lẻ), hạn chế (kinh doanh nhà hàng, một số ngành nghề kinh doanh bất động sản) hay chưa cam kết (phân phối thuốc) có thể bị loại khỏi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của DN. Nói tóm lại, nhà đầu tư nước ngoài sẽ không được đối xử bình đẳng như với DN trong nước. Vì sao vậy? Có hai quan điểm thường được dùng để trả lời cho câu hỏi trên.

Quan điểm thứ nhất là sự lo ngại DN FDI sẽ chiếm lĩnh thị trường trong nước, trong khi, các DN FDI chiếm tới 67% kim ngạch xuất khẩu mà chỉ đóng 14% cho ngân sách từ thuế.

Thật ra con số này không hề nhỏ. Tại Hoa Kỳ, đóng góp từ thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ chiếm 10-15% tổng ngân sách. Hơn nữa, giải pháp cho việc chống thất thu thuế không phải là việc hạn chế hoạt động của DN FDI, mà là tăng cường các biện pháp chống chuyển giá, bao gồm cả việc ấn định nghĩa vụ thuế cho DN FDI.

Hơn nữa, hãy tưởng tượng, nếu không có các DN FDI, thì nhà nước có thu được thêm đồng thuế nào không? Có họ, ít nhất, chúng ta cũng giải quyết được việc làm cho hơn 2 triệu lao động trực tiếp và nhiều triệu lao động gián tiếp. Tạo ra công ăn việc làm không phải là nghĩa vụ hàng đầu của nhà nước hay sao?

Ngoài ra, cũng có quan điểm cho rằng, do bị DN FDI tranh thị phần nên các DN trong nước đang “thua trên sân nhà”. Thậm chí, có quá nhiều nhà đầu tư nước ngoài sẽ ảnh hưởng đến an ninh – kinh tế. Tuy nhiên, thị trường sẽ tự chọn lọc ra nhà đầu tư nào có hiệu quả nhất – thông qua việc ai trả giá cao nhất.

Đối với DN trong nước, để hỗ trợ, Nhà nước hãy ban hành chính sách ưu đãi thuế tương đương, hay hơn nhà đầu tư nước ngoài, nhưng không nên hạn chế lĩnh vực hoạt động của DN FDI.

Đơn cử trong lĩnh vực dược hay bán lẻ. Sự tham gia của DN FDI sẽ làm giá bán giảm (do cạnh tranh), người tiêu dùng được lợi. DN trong nước nếu không cạnh tranh trực diện được thì sẽ cạnh tranh ở phân khúc khác, hoặc hợp tác liên doanh với DN FDI (nếu không phải vì thế mà họ trở thành nhà đầu tư nước ngoài).

Về lâu dài, cho dù là DN trong nước, hay nước ngoài, thì các DN nhỏ sẽ bị thâu tóm hoặc đóng cửa, các DN lớn sẽ ngày càng phát triển. Đây là xu hướng chung và mang tính tất yếu trên toàn thế giới, nên Nhà nước không nên cố gắng can thiệp vào quá trình này. Lối thoát duy nhất cho DN trong nước là lớn mạnh lên, thông qua nội lực và chính sách đầu tư của Nhà nước, chứ không phải đóng cửa với DN FDI. Thực tế cho thấy, các DN trong nước làm ăn hiệu quả tốt như Vinamilk, Saigon chúng tôi PetroVietnam… vẫn có thể mua lại DN FDI. Vậy thì, tại sao phải lo ngại cho DN trong nước?

Vốn Nhà Nước Ngoài Đầu Tư Công

Vốn nhà nước ngoài đầu tư công

Tại khoản 4, điều 1 Luật số 62/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung Điều 7, Luật Xây dựng số 50/2014/QH13

“Điều 7. Chủ đầu tư

2. Căn cứ nguồn vốn sử dụng cho dự án đầu tư xây dựng, việc xác định chủ đầu tư được quy định như sau:

a) Đối với dự án sử dụng vốn đầu tư công, việc xác định chủ đầu tư được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều này và pháp luật về đầu tư công;

…”

Một khái niệm mới đã xuất hiện: “vốn nhà nước ngoài đầu tư công”

Nhận xét đầu tiên, Luật số 62/2020/QH14 đã được biên soạn phù hợp theo tinh thần Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14 được thông qua ngày 13 tháng 06 năm 2020 và đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2020.

Cũng theo Luật này, tại khoản 22, điều 4 giải thích:

“Vốn đầu tư công quy định tại Luật này bao gồm: vốn ngân sách nhà nước; vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, theo Luật Đầu tư công và Luật Xây dựng thì vốn nhà nước ngoài đầu tư công được hiểu là các loại vốn nhà nước (xem Luật Đấu thầu 2013) nhưng không bao gồm vốn ngân sách nhà nước; vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư theo quy định của pháp luật.

Vốn ngân sách nhà nước;

Vốn nhà nước ngoài ngân sách.

Thì theo quy định mới này, hai đối tượng nguồn vốn chính trong hoạt động đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước được phân loại thành:

Vốn đầu tư công;

Vốn nhà nước ngoài đầu tư công.

Phan Việt Hiếu

DIỄN ĐÀN KIỂM TOÁN XÂY DỰNG

Ban biên tâp & Tư vấn: tuvan@kiemtoanxaydung.vn Trung tâm đào tạo: phongdaotao@kiemtoanxaydung.vn Hotline: 098765.6161

Đầu Tư Nước Ngoài Là Gì?

Pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể đầu tư nước ngoài là gì, nhưng căn cứ vào bản chất của hoạt động này, chúng ta có thể giải thích như sau: Đầu tư nước ngoài được hiểu là việc tổ chức cá nhân trong hoặc ngoài nước tiến hành góp vốn việc đầu tư vào Việt Nam và có tỉ lệ vốn đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư thuộc trường hợp nhà đầu tư nước ngoài.

a) Nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên hoặc đối với công ty hợp danh thì có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài;

b) Tổ chức kinh tế quy định tại điểm a góp từ 51% vốn điều lệ trở lên;

c) Nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế quy định tại điểm a chiếm giữ từ 51 % vốn điều lệ trở lên. Khi thành lập doanh nghiệp mới, tỷ lệ góp vốn góp của nhà đầu tư là cơ sở để xác định họ là doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp nước ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài không nhất thiết phải thành lập mới doanh nghiệp mà có thể tiến hành mua lại cổ phần.

Về hình thức đầu tư:

Hiện nay pháp luật đầu tư quy định cụ thể về các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, bao gồm:

-Thứ nhất đầu tư theo hình thức thành lập công ty

-Thứ hai, đầu tư theo hình thức góp vốn hoặc mua cổ phần, phần vốn góp

-Thứ ba, đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác PPP

-Thứ tư, đầu tư theo hình thức hợp đồng BBC

Mỗi hình thức đầu tư trên đều có những đặc điểm cũng như ưu điểm hạn chế riêng và các nhà đầu tư cần suy xét để lựa chọn cho mình hình thức đầu tư phù hợp nhất.

Hiện nay, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng mạnh và vấn đề về luật pháp luôn là sự quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư khi thực hiện đầu tư tại thị trường Việt Nam. Luật Việt Tín cam kết sẽ là người bạn đồng hành của các doanh nghiệp với những trợ giúp, tư vấn hữu ích về các thủ tục đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Mọi chi tiết vui lòng liên hệ ngay với đường dây nóng của Luật Việt Tín theo địa chỉ sau để được tư vấn miễn phí và hỗ trợ:

Hotline: 0945 292 808 / 0978 635 623 Email: luatviettin@gmail.com

Xác Định Rõ Khái Niệm Nhà Đầu Tư Nước Ngoài

Nguyên nhân dẫn tới vướng mắc kinh điển nói trên là sự không rõ ràng về khái niệm nhà đầu tư nước ngoài trong Luật Đầu tư cũng như các văn bản hướng dẫn. Điều này đã hạn chế đáng kể sức hấp dẫn trong các quy định thông thoáng của Luật Đầu tư về điều kiện và thủ tục đầu tư

Về trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thế hệ thứ 2 trở đi, hay nói cách khác là các trường hợp nhà đầu tư là doanh nghiệp liên doanh có một phần vốn trong nước và một phần vốn nước ngoài cùng với chủ thể khác hình thành một doanh nghiệp liên doanh thế hệ thứ 2 và cứ thế tiếp theo. Về mặt pháp lý và nguyên lý kinh tế, khi doanh nghiệp liên doanh thế hệ 1 đem vốn đi kinh doanh, đầu tư bao gồm cả việc thành lập một doanh nghiệp con sẽ không thể, không được phân định rạch ròi đâu là phần vốn trong nước và phần vốn nước ngoài vì phần vốn lúc này đơn giản chỉ được công nhận chung là vốn của doanh nghiệp thế hệ 1. Trong các trường hợp này, chỉ có thể sử dụng phương pháp xác định suy đoán: nếu một chủ thể đã được xác định là nhà đầu tư nước ngoài (có trên 50% vốn nước ngoài) thì toàn bộ các hành vi sau đó của chủ thể này bao gồm cả việc đi đầu tư thành lập một doanh nghiệp con sẽ được xem là hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài thuần túy và phần vốn mà nhà đầu tư này sử dụng để kinh doanh, đầu tư bao gồm cả đầu tư thành lập doanh nghiệp mới đều được xem là vốn đầu tư nước ngoài toàn bộ. Và ngược lại, nếu một chủ thể đã được xác định là nhà đầu tư trong nước (có trên 50% vốn trong nước) thì khi đi kinh doanh, đầu tư, mọi loại vốn mà chủ thể này bỏ ra sẽ được xem là vốn trong nước. Cứ như vậy cho tất cả các trường hợp đầu tư, sở hữu chéo tiếp sau. Cách thức định nghĩa suy đoán này cho phép xử lý hoàn toàn vấn đề hạn chế quyền kinh doanh đối với nhà đầu tư nước ngoài, theo đó mọi nhà đầu tư nước ngoài khi đi đầu tư đều là chủ thể thế hệ 1.

Thêm nữa, bên cạnh khái niệm nhà đầu tư nước ngoài, cần có khái niệm quốc tịch nước ngoài để xác định các trường hợp nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân có quốc tịch một nước ngoài cụ thể. Bởi khái niệm này là cần thiết trong trường hợp cam kết mở cửa thị trường trong một số ngành, lĩnh vực không áp dụng chung với mọi nhà đầu tư nước ngoài mà áp dụng riêng cho nhà đầu tư nước ngoài mang quốc tịch một nước đối tác nhất định. Trong trường hợp cá nhân nước ngoài có 2 quốc tịch trở lên, trong đó có quốc tịch Việt Nam thì phải có quy định rõ để cơ quan quản lý có cơ sở xác định là nhà đầu từ trong nước hay nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư ở nước ta.

Theo dbnd

Ms Giang 0909016286 – kế toán thuế trọn gói 300k – đăng ký kinh doanh 500k – báo cáo tài chính 500k – thành lập doanh nghiệp 990k

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nhà Đầu Tư Nước Ngoài Là Gì? trên website Sieuphampanorama.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!