Đề Xuất 12/2022 # Pháp Luật Tố Tụng Dân Sự Việt Nam Trong Tiến Trình Hội Nhập Quốc Tế / 2023 # Top 20 Like | Sieuphampanorama.com

Đề Xuất 12/2022 # Pháp Luật Tố Tụng Dân Sự Việt Nam Trong Tiến Trình Hội Nhập Quốc Tế / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Pháp Luật Tố Tụng Dân Sự Việt Nam Trong Tiến Trình Hội Nhập Quốc Tế / 2023 mới nhất trên website Sieuphampanorama.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

TS. TRẦN ANH TUẤN – Bộ môn Luật Tố tụng dân sự, Khoa Luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội

1. Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập nhìn từ góc độ văn hoá, lịch sử và truyền thống dân tộc

Con người vốn không hoàn hảo và loài người vốn bất toàn. Do vậy, từ xưa tới nay, dù ở Đông phương hay Tây phương thì trật tự xã hội được duy trì là nhờ vào luân lý và luật pháp. Xét theo lẽ thường thì luân lý và luật pháp quốc gia được hình thành trên nền tảng của những triết lý nhân bản, hướng tới việc duy trì trật tự xã hội và phụng sự cho cuộc sống của con người được tốt đẹp hơn. Các triết lý nhân bản này vốn bắt nguồn từ cuộc sống và là sự phản ánh của đời sống thực tại, cho nên sự thể hiện các triết lý này trong luật pháp không thể tách rời các điều kiện kinh tế – xã hội, truyền thống lịch sử và nền văn hoá của mỗi nước. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay thì các triết lý căn bản về tố tụng dân sự và sự thể hiện nó trong pháp luật của mỗi quốc gia cũng không nằm ngoài quy luật chung này. Hội nhập quốc tế về pháp luật tố tụng dân sự không có nghĩa là đồng nhất hoá hay lai tạp luật pháp của các quốc gia với nhau mà là sự tiếp biến và chọn lọc có điều kiện những ưu việt của nền văn minh nhân loại cho phù hợp với điều kiện của mỗi nước. Có như vậy thì hiện tượng “có mới, nới cũ”, “sính ngoại” hay “đứt gãy về truyền thống lập pháp”, làm mất đi “hồn cốt dân tộc” mới được khắc phục và loại trừ.

Để có một cái nhìn thấu đáo về pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta cần nghiên cứu và đánh giá một cách nghiêm cẩn thành tựu lập pháp của tiền nhân, trên cơ sở đó mà suy xét về những vấn đề đang được đặt ra trong giai đoạn hiện nay. Có thể nhận xét rằng những giải pháp cụ thể về hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập không thể không gắn với lịch sử lập pháp về tố tụng dân sự, điều kiện kinh tế, xã hội và truyền thống văn hoá dân tộc. Bởi vì nếu chỉ sao chép nguyên bản các định lệ về tố tụng của nước ngoài theo trào lưu hội nhập mà không xét đến gốc rễ, cội nguồn sâu xa của vấn đề trong mối liên hệ với nền văn hoá và triết lý nhân sinh của mỗi dân tộc thì e rằng các quy định được xây dựng sẽ trở nên xa lạ với đời sống và khó có thể trường tồn. Xét ở góc độ tinh thần tự tôn dân tộc thì việc tiếp nhận một cách cơ học luật pháp nước ngoài còn có thể vô tình làm cho bản sắc văn hoá pháp lý và chủ quyền dân tộc bị lu mờ trước sức xâm lấn và đồng hoá của luật pháp ngoại bang.

Trong xu thế toàn cầu hoá và mở rộng giao lưu thương mại giữa các quốc gia hiện nay thì sự trao đổi và tiếp biến văn hoá tư pháp giữa phương Đông và phương Tây là một tất yếu khách quan. Tuy nhiên, trong lĩnh vực tư pháp dân sự thì định lệ về tố tụng dân sự được xây dựng phải đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản: Tiếp thu được những thành tựu khoa học tố tụng của các nước phát triển nhưng không quá xa lạ với người Việt và văn hoá Việt. Nhà lập pháp phải lưu ý rằng thủ tục tố tụng dân sự được xây dựng không chỉ áp dụng cho thị dân thành thị, nơi mà thương mại phát triển, trình độ dân trí cao, mối quan hệ giữa con người với con người ít ràng buộc bởi tình làng, nghĩa xóm…mà còn áp dụng nơi thôn dã với những phong tục, thói quen, người nông dân ít hiểu biết về pháp luật và cũng không có điều kiện để thuê luật sư bảo vệ quyền lợi cho mình như người dân thành thị. Nơi vùng sâu, vùng xa có đồng bào dân tộc sinh sống thì đặc điểm tâm lý, văn hoá của các dân tộc thiểu số cũng cần được các nhà lập pháp lưu tâm khi tiếp thu thành tựu lập pháp nước ngoài. Chẳng hạn, do trọng danh dự và quan niệm việc tự tước đi mạng sống sẽ chứng minh cho sự trong sạch của mình, đôi khi có thể dẫn tới việc người dân có những phản ứng tiêu cực khi gặp những bất lợi trong quá trình kiện tụng dân sự[1]. Ở những vùng dân cư này thì việc hoà giải tiền tố tụng của những người có uy tín trong bản làng và vai trò của Thẩm phán trong việc đôn đốc thủ tục cần được đề cao. Do vậy, việc mô phỏng và tiếp nhận thủ tục tố tụng tranh tụng của các nước theo hệ thống thông luật hay luật án lệ cần phải được cân nhắc hết sức thận trọng.

Để xây dựng một thủ tục tố tụng dân sự dân chủ, gần dân, thân thiện với dân thì ngay từ khi chắp bút soạn thảo pháp luật, nhà lập pháp đã phải ý thức được sứ mệnh cao cả và bổn phận thiêng liêng của mình với xã hội. Pháp luật tố tụng dân sự được xây dựng không phải là những định lệ phiền toái như dân gian quan niệm[2] mà phải là phương tiện hữu hiệu để người dân có thể sử dụng trong việc bảo vệ quyền lợi của mình. Cho nên nhà lập pháp khi xây dựng nên những định lệ này phải đứng từ góc nhìn nhân bản để ngăn chặn hay loại bỏ những nhân tố tiêu cực có thể nảy sinh từ phía người tiến hành tố tụng hoặc các tụng nhân. Ngạn ngữ tây phương có câu « Mọi quyền lực đều làm hư hỏng con người »[3] và cổ ngữ đông phương dường như còn mở rộng hơn khuynh hướng này thông qua câu tục ngữ « dân gian, quan tham ». Đó là một khuynh hướng tiêu cực trong đời sống có nguồn gốc từ cái tâm không chính của con người cần phải được hạn chế, loại trừ ra khỏi đời sống pháp đình. Dưới góc nhìn của giáo lý nhà Phật thì con người có bản ngã, bị trói buộc bởi « tham, sân, si »[4]. Khi mỗi cá nhân không tự chủ được mình, không vượt qua được bản ngã thì hành vi của cá nhân đó có khuynh hướng không còn theo « con đường chính » nữa. Đây chính là căn nguyên của những phức tạp nảy sinh trong quá trình kiện tụng mà nguồn gốc của nó là từ cái tâm không chính của con người. Ngoài căn nguyên này thì sự nhầm lẫn hay ngộ nhận của quan toà và các tụng nhân về sự việc, về luật pháp hay về quyền lợi cũng làm cho việc kiện có thể bị kéo dài, gây hao tiền, tốn của.

Như vậy, các quy định về tố tụng được xây dựng, một mặt có ý nghĩa định hướng hành vi ứng xử của người tiến hành tố tụng và các tụng nhân đi theo « con đường chính », mặt khác, là phương tiện để sửa chữa những sai lầm do sự vô tình hay hữu ý của quan toà và các tụng nhân đem lại. Thiết nghĩ, một thủ tục tố tụng được coi là tốt đẹp nếu việc vận hành thủ tục này sẽ làm cho người nắm quyền lực phán xử không thể lạm quyền, người có quyền lợi cần được phán xử không thể gian dối, gây khó khăn cho việc thực thi công lý. Tuy nhiên, các quy định về tố tụng dân sự sẽ trở nên lý tưởng nếu bên cạnh sự kiểm soát, định hướng hành vi ứng xử theo « con đường chính » còn thể hiện được tính nhân bản, gần dân và phụng sự cho dân. Đây là tư tưởng cốt lõi mà nhà lập pháp cần phải thấm nhuần khi tiếp nhận các định chế nước ngoài vào nội luật. Có thể nhận thấy rằng tinh thần nhân bản phụng sự dân, bảo vệ dân chống lại sự lạm quyền của quan xử kiện thông qua các quy định về thủ tục tố tụng không phải chỉ xuất hiện trong các định chế tố tụng của Tây phương mà điều này từ lâu đã được ông cha ta ghi nhận trong cổ luật. Những quy định này có lẽ có cội nguồn từ sự đúc kết những kinh nghiệm quản lý, điều hành đất nước của ông cha ta theo triết lý nhân bản của Phật giáo và Nho giáo.

Dưới góc nhìn lịch sử, có thể nhận thấy rằng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của điều kiện kinh tế, xã hội và những biến động trong dòng chảy lịch sử nước nhà. Trước thời Pháp thuộc, pháp luật Việt Nam dường như không có sự phân biệt rạch ròi giữa dân sự và hình sự, cơ quan tài phán và cơ quan quản lý. Các tranh chấp về dân sự được giải quyết bởi người đứng đầu bộ máy cai trị các cấp theo các quy tắc chung về tố tụng được thiết lập để giải quyết các việc kiện cáo trong dân. Dưới thời Lê (1428 – 1788) các quy định này được ghi nhận trong Quốc triều Hình luật (1483) và Quốc triều khám tụng điều lệ (1777). Đến thời Nguyễn (1802 – 1858 và 1858 – 1945) các quy định này tiếp tục được kế thừa trong bộ Hoàng Việt luật lệ (1812). Do chịu ảnh hưởng sâu sắc của nho giáo nên pháp luật về tố tụng trong thời kỳ này đã hạn chế quyền đi kiện của một số thành viên trong gia đình[5]. Tuy nhiên, nhiều quy định về tố tụng được xây dựng trong thời kỳ này đã thể hiện những triết lý về tố tụng được trải nghiệm và đúc kết từ thực tế cuộc sống. Chẳng hạn như quy định về sự phân cấp thẩm quyền xét xử, về thời hạn xét xử theo tính chất của vụ việc, quy định về hoà giải nhằm giảm bớt việc kiện tụng, về lệ tạ phạt nếu quan xét xử không đúng, về việc từ chối xử kiện của quan xét xử nếu không bảo đảm tính khách quan…v.v. Những quy định này đã thể hiện những triết lý về tính linh hoạt, mềm dẻo của thủ tục tố tụng và tính minh bạch, công bằng trong phán xét của quan xử kiện nhằm bảo vệ quyền lợi cho dân chúng. So với kỹ thuật lập pháp của các nước phương Tây thời bấy giờ thì có thể xem đây là những thành tựu và di sản lập pháp đáng tự hào mà ông cha ta để lại.

Việc nghiên cứu cho thấy các quy định về thủ tục tố tụng dân sự với tư cách là một thủ tục tố tụng riêng biệt có lẽ chỉ chính thức được du nhập vào miền Nam Việt Nam dưới thời Pháp thuộc bằng Nghị định 16/3/1910[6]. Tiếp theo đó là Bộ dân sự tố tụng Bắc ban hành năm 1917 và Bộ Hộ sự thương sự tố tụng Trung Việt năm 1942, áp dụng tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Có thể nhận xét rằng các quy định về tố tụng dân sự của Việt Nam dưới thời Pháp thuộc được xây dựng trên cơ sở tham chiếu và giản lược các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Pháp 1807 cho phù hợp với đời sống của người dân bản địa. Do vậy, các quy định về tố tụng dân sự trong những bộ luật này chịu nhiều ảnh hưởng của pháp luật tố tụng dân sự Pháp.

Sự đổi mới cơ chế và mở cửa đất nước đã thúc đẩy sự ra đời của 3 văn bản về thủ tục tố tụng trong lĩnh vực tư pháp dân sự: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996. Trên cơ sở kế thừa và phát triển ba Pháp lệnh về thủ tục tố tụng trước đó đồng thời tiếp thu những thành tựu lập pháp của nhiều nước trên thế giới như Cộng hoà Pháp, Mỹ, Úc, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Singapore… năm 2004, nhà lập pháp Việt Nam đã xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự chung thống nhất (BLTTDS). Như vậy, sau rất nhiều năm tồn tại ba loại thủ tục tố tụng riêng biệt như là một sự khác biệt so với thế giới, BLTTDS ra đời đã đánh dấu một bước chuyển biến lớn trong lịch sử pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, khẳng định sự nỗ lực của Việt Nam trong việc hội nhập và tiếp thu thành quả của nền văn minh nhân loại.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, BLTTDS là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, pháp nhân nước ngoài có quan hệ thương mại với Việt Nam. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các tranh chấp tại Toà án đã cho thấy một số quy định về thủ tục tố tụng được mô phỏng từ pháp luật nước ngoài khi áp dụng tại Việt Nam lại không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của xã hội Việt Nam. Điển hình là một số quy định về nghĩa vụ chứng minh, thủ tục cung cấp, thu thập chứng cứ còn có những hạn chế cần phải được hoàn thiện. Ngoài ra, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra áp lực đòi hỏi các quốc gia và cộng đồng phải cải cách pháp luật tố tụng dân sự của mình theo hướng đảm bảo sự mềm dẻo, linh hoạt và đa dạng hoá các loại hình thủ tục tố tụng cho phù hợp với tính chất của từng loại tranh chấp. Các quy định về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của chúng ta hiện nay tuy đã có nhiều sửa đổi nhưng cũng chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu về tính có hiệu quả trong việc bảo vệ quyền lợi của đương sự, đặc biệt là trong các tranh chấp thương mại hiện nay. Trước đây, khi Việt Nam còn là một xã hội thuần nông, việc kiện tụng dân sự tại Toà án không nhiều và chủ yếu là các việc kiện về dân sự, hôn nhân và gia đình thì các quy định về thủ tục tố tụng dân sự trước kia là tương đối phù hợp với nhịp sống của người Việt. Thế nhưng, nay do giao lưu kinh tế quốc tế, các tranh chấp dân sự, thương mại cũng nảy sinh ngày một nhiều đòi hỏi các quy định về thủ tục tố tụng dân sự phải được cải tiến nhằm đáp ứng được yêu cầu về tính nhanh chóng, hiệu quả trong việc giải quyết các loại tranh chấp này. Xét về thực tế thì Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới, nhưng pháp luật tố tụng dân sự của chúng ta lại thiếu vắng các quy định về thủ tục tố tụng giản đơn áp dụng đối với các vụ kiện dân sự, thương mại đơn giản, rõ ràng. Các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự mới được xây dựng ở Việt Nam là một loại hình thủ tục tố tụng dân sự đặc biệt nhưng bản thân các quy định về thủ tục này cũng còn có những hạn chế, thiếu tính mềm dẻo, linh hoạt cần phải được tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi và hoàn thiện.

2. Hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Dưới góc nhìn lịch sử thì sự hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam dường như luôn gắn với những thăng trầm của lịch sử dân tộc. Các nhà lập pháp Việt Nam trong từng thời kỳ lịch sử trước đây đều chú trọng và có những đóng góp nhất định trong việc xây dựng và bồi đắp cho nền pháp luật tố tụng dân sự nước nhà. Nhà lập pháp đương đại cũng đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự cho phù hợp hơn với đời sống nhưng xét một cách khách quan thì pháp luật tố tụng dân sự của chúng ta cũng chưa thực sự đáp ứng được các yêu cầu về tính mềm dẻo, linh hoạt mà công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra. Nhận thức được thực tế này, Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã chỉ rõ cần phải « Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại toà làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp… ». Tiếp theo đó, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ: «…Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định »; “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự… », « Nghiên cứu chế định thừa phát lại (thừa hành viên); trước mắt, có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương ».

Thực hiện đường hướng về cải cách thủ tục tố tụng tư pháp nói trên, cần phải có sự nghiên cứu và đánh giá hết sức thận trọng về những ưu điểm, nhược điểm của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành trong mối liên hệ với truyền thống lập pháp, đặc điểm văn hoá, tâm lý dân tộc và thành tựu khoa học tố tụng trên thế giới. Trên cơ sở sự nghiên cứu này có thể rút ra những giải pháp cụ thể cho việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự, đáp ứng những yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nước ta. Như vậy, hai yêu cầu căn bản đặt ra cần phải được giải quyết một cách hài hoà là đơn giản hoá các thủ tục nhằm đáp ứng đòi hỏi về tính mềm dẻo, linh hoạt của thủ tục tố tụng dân sự trong bối cảnh toàn cầu hoá và chú trọng đến những đặc điểm riêng biệt về tâm lý, văn hoá, truyền thống dân tộc, điều kiện kinh tế – xã hội nhằm đảm bảo tính thích ứng và sự phù hợp của pháp luật tố tụng dân sự với đời sống. Nói cách khác là nhà lập pháp Việt Nam phải tìm được lời giải cho bài toán về tính hợp lý cho sự tồn tại của các định lệ về tố tụng dân sự trong bối cảnh toàn cầu hoá. Theo tinh thần này, chúng tôi cho rằng năm vấn đề mang tính cốt lõi trong việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, bao gồm: Xác định hợp lý vai trò và trách nhiệm chứng minh của các chủ thể; đảm bảo tính linh hoạt và hiệu quả của các quy định về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; xây dựng cơ chế chuyển hoá từ việc dân sự sang vụ án dân sự; thiết lập thủ tục tố tụng dân sự rút gọn nhằm loại bỏ sự rườm rà, đảm bảo tính linh hoạt, mềm dẻo của thủ tục tố tụng dân sự; đổi mới cơ chế thi hành án dân sự nhằm khắc phục tình trạng chậm chạp và kém hiệu quả do mô hình thi hành án công đem lại.

Trên thế giới hiện tồn tại nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, trong đó hai hệ thống pháp luật được xem là chủ yếu đó là hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (continental law) và hệ thống pháp luật án lệ (common law). Tương ứng với hai hệ thống pháp luật trên là hai loại hình thủ tục tố tụng chủ yếu là thủ tục tố tụng xét hỏi và thủ tục tố tụng tranh tụng. Có thể nhận xét rằng, hai loại hình tố tụng này đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định. Tuy nhiên, để khắc phục những hạn chế của mỗi loại hình tố tụng, xu hướng cải cách thủ tục tố tụng trên thế giới hiện nay là pháp luật tố tụng dân sự của các nước đang ngày càng xích lại gần nhau hơn, loại bỏ dần những yếu tố không hợp lý và chấp nhận những ưu điểm của hệ thống pháp luật khác.

Theo dòng lịch sử, có thể thấy rằng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trước đây thuộc loại hình thủ tục tố tụng xét hỏi, coi trọng việc điều tra, thu thập chứng cứ của Thẩm phán và hồ sơ vụ án. Điều này có thể được minh chứng bởi các quy định về thủ tục tố tụng dân sự tại Nam kỳ, Trung Kỳ và Bắc kỳ trong thời kỳ Pháp thuộc được xây đựng trên cơ sở mô phỏng và giản lược các quy định của BLTTDS Pháp 1807. Sau này, các quy định tại ba pháp lệnh về thủ tục (Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996) mặc dù quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh bảo vệ quyền lợi cho mình thuộc về đương sự nhưng vẫn khẳng định « Khi cần thiết, Toà án có thể xác minh, thu thập chứng cứ để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được chính xác »[7].

Bộ Luật Tố tụng Dân sự Việt Nam năm 2004 (BLTTDS) về cơ bản cũng được xây dựng trên cơ sở thủ tục tố tụng xét hỏi của các nước theo hệ thống luật châu Âu lục địa như BLTTDS mới của Pháp năm 1975 nhưng có kết hợp các yếu tố của thủ tục tố tụng tranh tụng của các nước theo hệ thống pháp luật án lệ. Cụ thể là BLTTDS Việt Nam hiện nay vẫn coi hồ sơ vụ án là tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án nhưng đề cao hơn nghĩa vụ tự chứng minh của đương sự so với các quy định trước kia, trong trường hợp xét thấy chứng cứ trong hồ sơ chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ. Toà án chỉ tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ khi đương sự không thể tự mình thu thập được và có yêu cầu Toà án thu thập chứng cứ[8].

Theo BLTTDS hiện nay, mặc dù Hội đồng xét xử giữ vai trò điều khiển phiên tòa nhưng các yếu tố của thủ tục tố tụng tranh tụng được coi trọng như trong phần xét hỏi luật sư có quyền chất vấn bên đối thủ, các đương sự có thể đặt câu hỏi đối với nhau. Ngoài ra, đương sự được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Toà án thu thập; tất cả các tình tiết, chứng cứ, tài liệu dùng làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án đều được các bên tranh tụng công khai, trực tiếp và bằng lời nói tại phiên tòa, luật sư giữ vai trò chủ động trong quá trình tranh tụng, Toà án không được hạn chế thời gian tranh luận mà phải tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến của họ[9].

Việc tiếp nhận các yếu tố của thủ tục tố tụng tranh tụng trong BLTTDS Việt Nam cũng đặt ra những vấn đề mà chúng ta cần giải quyết. Trong thực tiễn, sau khi BLTTDS có hiệu lực pháp luật, các Toà án dường như trút được một gánh nặng trong việc chứng minh làm rõ sự thật của vụ án với quan niệm các đương sự phải tự chứng minh cho quyền lợi của mình, nếu không tự chứng minh được sẽ bị Toà án xử bác yêu cầu. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng Việt Nam là một đất nước mà đa phần dân số đều làm nông nghiệp, do vậy, các quy định này của BLTTDS mặc dù không gây xáo trộn đối với các doanh nghiệp, các thị dân thành phố nhưng đối với khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa thì đó lại quả là một vấn đề không nhỏ. Người nông dân Việt Nam vốn xa lạ với pháp đình và càng xa lạ hơn với việc tự chứng minh, do vậy, sau khi nộp đơn kiện rồi thì thường phó mặc cho Toà án giải quyết mà không biết rằng mình phải tự đi thu thập các tài liệu cần thiết để chứng minh. Trong khi đó, theo quy định của BLTTDS hiện nay thì Toà án không còn được tự mình tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ để hoàn thiện hồ sơ vụ án như trước đây nữa. Như vậy, hậu quả tất yếu là thời gian giải quyết vụ án sẽ bị kéo dài hơn so với các quy định trước kia. Để khắc phục tình trạng này, thiết nghĩ cơ quan có thẩm quyền nên có những quy định mang tính chuyển tiếp cho việc thực hiện. Cụ thể là cần quy định rõ khi nhận đơn khởi kiện của đương sự, Toà án phải giải thích rõ cho đương sự về nghĩa vụ chứng minh của họ cũng như các chứng cứ, tài liệu cụ thể cho mỗi vụ án mà đương sự phải xuất trình và quyền yêu cầu Toà án thu thập chứng cứ nếu không tự mình thu thập được.

Quá trình xây dựng các quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS, chúng ta cũng đã tham khảo pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới về vấn đề này như pháp luật tố tụng dân sự Mỹ, Pháp, Nga, Trung Quốc…Việc tham khảo pháp luật của các nước này cho thấy, trên cơ sở sự kết hợp hài hoà giữa các nguyên tắc truyền thống, sự mềm dẻo, linh hoạt trong việc xây dựng thủ tục giải quyết tranh chấp, các nhà lập pháp đã xây dựng những quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm đảm bảo cho việc xét xử, thi hành án hoặc giải quyết những yêu cầu khẩn cấp của đương sự. Pháp luật tố tụng dân sự của Mỹ, Pháp, Trung Quốc cho phép áp dụng các biện pháp khẩn cấp trước khi khởi kiện hoặc trong quá trình Toà án giải quyết một vụ kiện chính hoặc có thể được áp dụng một cách hoàn toàn độc lập.

Tuy nhiên, các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong pháp luật tố tụng dân sự của các nước này cũng có những điểm khác biệt nhất định. Chẳng hạn, trong BLTTDS Pháp có hai loại thủ tục tố tụng được thiết lập để áp dụng giải quyết những loại việc mang tính khẩn cấp là thủ tục xét xử cấp thẩm và thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu. Điểm khác biệt cơ bản giữa hai thủ tục này là vấn đề có triệu tập bị đơn đến tham gia tố tụng hay không[10]. Theo thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu trong tố tụng dân sự Pháp không cần thiết phải triệu tập bị đơn đến tham gia tố tụng, ngược lại thủ tục xét xử cấp thẩm tuân theo trình tự tranh tụng, việc triệu tập bị đơn đến tham gia phiên xét xử là bắt buộc. Thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu không đòi hỏi Thẩm phán phải triệu tập bị đơn đến tham gia tố tụng, bởi lẽ thủ tục này được áp dụng đối với các loại việc có nhiều bị đơn mà Toà án không thể triệu tập các đương sự đến tham gia tố tụng hoặc các vụ việc mà việc triệu tập bị đơn là khó khăn. Ví dụ: buộc những người đình công chiếm giữ công sở phải rời nơi họ chiếm giữ, sở hữu chủ yêu cầu trục xuất những người chiếm hữu nhà của họ một cách bất hợp pháp mà không có hợp đồng thuê nhà, lập bằng chứng về việc ngoại tình[11]…Các quy định về thủ tục trục xuất những người chiếm hữu nhà một cách bất hợp pháp cũng thường được áp dụng trong tố tụng dân sự của Ý và Tây Ban Nha.

Ở Việt Nam những thủ tục tương tự đã từng được áp dụng trong thời kỳ Pháp thuộc và chế độ cũ dưới tên gọi là thủ tục cấp thẩm và thủ tục án lệnh phê đơn với thẩm quyền chuyên biệt trong việc ra quyết định thuộc về Chánh án. Theo những thủ tục này, Chánh án Toà án có thể quyết định áp dụng các biện pháp cần thiết ngay cả khi Toà án chưa thụ lý vụ kiện. Tiếc rằng, theo dòng thời gian, các quy định này không còn được áp dụng nữa. Trong quá trình xây dựng BLTTDS, Ban soạn thảo đã phối hợp với Nhà Pháp luật Việt – Pháp tổ chức nhiều cuộc hội thảo về pháp luật tố tụng dân sự, đặc biệt là tham khảo kinh nghiệm của Pháp về thủ tục cấp thẩm nhằm hoàn thiện các quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Dự thảo BLTTDS Việt Nam. Tuy nhiên, do có nhiều quan điểm khác nhau nên BLTTDS Việt Nam chỉ tiếp thu một phần kinh nghiệm của Pháp về thủ tục cấp thẩm để xây dựng các quy định về một số biện pháp khẩn cấp mang tính chất buộc tạm thực hiện trước một phần nghĩa vụ như buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm; buộc người sử dụng lao động phải tạm ứng tiền công, tiền bồi thường.v.v. BLTTDS của chúng ta hiện nay chỉ dừng lại ở việc quy định các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án trong vụ kiện chính mà không có sự phân biệt giữa hai loại thủ tục xét xử cấp thẩm và xét xử theo đơn yêu cầu như trong tố tụng dân sự Pháp[12].

Có thể nhận xét rằng, các quy định về thời điểm áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS hiện nay chủ yếu được xây dựng trên cơ sở kế thừa ba pháp lệnh về thủ tục tố tụng trước đó và được bổ sung, hoàn thiện hơn trên cơ sở tham khảo các quy định tương ứng trong pháp luật tố tụng dân sự của một số nước trên thế giới. Tuy nhiên, sự tiếp thu quy định của các nước về thời điểm áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS Việt Nam cũng còn nhiều hạn chế. Theo pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới mà điển hình là pháp luật tố tụng dân sự của Mỹ, Pháp và Trung Quốc thì thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp có thể được áp dụng trước khi khởi kiện hoặc trong quá trình Toà án giải quyết một vụ kiện chính hoặc có thể được áp dụng một cách hoàn toàn độc lập[13]. Trong quá trình xây dựng BLTTDS, trên cơ sở mô phỏng quy định trong pháp luật tố tụng dân sự các nước nói trên, các nhà soạn thảo của chúng ta đã đưa vào Khoản 1 Điểm a Điều 120 Dự thảo XI BLTTDS một quy định theo hướng: « Nếu biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng trước khi người yêu cầu khởi kiện vụ án mà hết thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày Toà án ra quyết định áp dụng người yêu cầu đã không khởi kiện vụ án tại Toà án thì biện pháp khẩn cấp tạm thời này bị huỷ bỏ ». Tuy nhiên, sự tiếp thu này đã gây nhiều tranh cãi và phản ứng khác nhau, sau nhiều bàn thảo và tranh luận cam go giữa những người nghiên cứu về tố tụng và các nhà thực tiễn, chúng ta đã đi đến một giải pháp trung dung giữa các quy định mang tính truyền thống và các kỹ thuật tố tụng hiện đại của thế giới. Cụ thể là BLTTDS Việt Nam đã mở rộng hơn phạm vi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời so với các quy định trước kia, cho phép đương sự có thể yêu cầu Toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời cùng với việc nộp đơn khởi kiện vụ án hoặc trong quá trình giải quyết vụ án (Điều 99 BLTTDS) nhưng không cho phép yêu cầu áp dụng biện pháp này trước khi khởi kiện vụ án. Có lẽ khi quyết định chọn lựa giải pháp này nhà lập pháp Việt Nam dường như không xét đến tính logic giữa các quy định về vấn đề này trong nội luật. Bởi vì theo Điều 340 BLTTDS thì đương sự vẫn có quyền yêu cầu Toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay cả khi vụ tranh chấp thương mại do trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết. Thiết nghĩ, để đáp ứng yêu cầu về tính linh hoạt của thủ tục tố tụng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế thì việc hoàn thiện quy định về các biện pháp khẩn cấp theo hướng mở rộng quyền yêu cầu áp dụng các biện pháp này trước khi khởi kiện hoặc độc lập với vụ kiện chính là hoàn toàn cần thiết.

Theo học lý về tố tụng dân sự của các nước theo hình mẫu Châu Âu lục địa thì để đảm bảo hiệu quả của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong một số trường hợp việc áp dụng các biện pháp này phải mang tính bí mật, bất ngờ đối với bên bị áp dụng. Vấn đề này không được mô tả cụ thể trong BLTTDS Pháp 1807 nhưng đã được ghi nhận trong học lý và án lệ của Pháp[14]. Học lý về tố tụng dân sự và BLTTDS của ta hiện nay không đề cập tới vấn đề này. Thiết nghĩ, đối với các biện pháp khẩn cấp tạm thời như kê biên, cấm chuyển dịch tài sản đang tranh chấp, phong toả tài khoản tại các tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước, phong toả tài sản tại nơi gửi giữ, phong toả tài sản của người có nghĩa vụ thì yếu tố bí mật, bất ngờ trong việc áp dụng là hết sức cần thiết. Đây là một vấn đề cần phải được nghiên cứu và bổ sung trong BLTTDS theo hướng đương sự có quyền trực tiếp yêu cầu Chánh án hay Thẩm phán áp dụng các biện pháp khẩn cấp nêu trên và Chánh án hay Thẩm phán được yêu cầu có bổn phận trong việc bảo mật thông tin trước khi biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng.

Để đảm bảo quyền lợi chính đáng của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp và ngăn ngừa việc lạm quyền khi yêu cầu áp dụng biện pháp này, pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Pháp, Trung Quốc…đều có những quy định về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Điều 120 BLTTDS Việt Nam hiện nay đã tiếp thu được các quy định về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo pháp luật tố tụng dân sự của các nước nói trên. Theo khoản 1 Điều 120 BLTTDS thì « Người yêu cầu Toà án áp dụng một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 102 của Bộ luật này phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Toà án ấn định tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền yêu cầu ». Thực tiễn vận dụng các quy định nêu trên của BLTTDS đã đặt ra những vấn đề sau đây:

Theo tinh thần của Điều luật này thì mặc dù trong « …tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra… » mà người yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chưa thực hiện biện pháp bảo đảm thì Toà án vẫn không ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Như vậy, việc vận dụng các quy định về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm này trong thực tiễn trong nhiều trường hợp không bảo đảm được quyền lợi chính đáng của nguyên đơn. Mặt khác, bị đơn có thể lợi dụng các quy định của pháp luật để tẩu tán tài sản, đặc biệt là đối với các vụ án mà nguyên đơn là người nghèo không có tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá để gửi vào tài khoản phong toả tại ngân hàng nơi có trụ sở của Toà án.

Ngoài ra, việc nhà lập pháp quy định người yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải thực hiện biện pháp bảo đảm tại ngân hàng trước khi biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng sẽ khó tránh khỏi việc rò rỉ thông tin về biện pháp khẩn cấp mà Toà án sẽ áp dụng. Do vậy, ngoài trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong việc bảo mật thông tin thì quy định về việc mã hoá các thông tin liên quan đến biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ được áp dụng khi thực hiện biện pháp bảo đảm tại ngân hàng cũng là vấn đề cần phải cân nhắc. Nghiên cứu mẫu quyết định thực hiện biện pháp bảo đảm do Toà án nhân dân tối cao ban hành hiện nay thì các thông tin về biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ được áp dụng dường như không được bảo mật mà trái lại còn được mô tả « khá cụ thể và chi tiết »[15] !

2.3. Về việc xây dựng cơ chế chuyển hoá từ việc dân sự sang vụ án dân sự

Trước những yêu cầu của công cuộc cải cách và hội nhập quốc tế, một thủ tục tố tụng đặc biệt đã được xây dựng trong BLTTDS với tên gọi thủ tục giải quyết việc dân sự. Thủ tục này được xây dựng nhằm áp dụng giải quyết đối với các vụ việc không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp giữa các bên đương sự. Có thể nói, đây là một thủ tục giản đơn hơn so với thủ tục giải quyết các vụ việc mà các bên đương sự có tranh chấp về quyền, lợi ích vì thời hạn giải quyết được rút ngắn, Toà án không phải mở phiên toà xét xử, vụ việc chỉ do một Thẩm phán độc lập giải quyết dưới hình thức một phiên họp đơn giản. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng thủ tục này cho thấy những quy định không hợp lý của luật thực định đã gây kéo dài thời gian giải quyết vụ việc mà lẽ ra chúng có thể được kết thúc sớm hơn nếu cơ chế về chuyển hoá giữa các loại hình thủ tục tố tụng được thiết lập.

Việc nghiên cứu các loại việc được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự cho thấy rằng đối với các vụ việc mà bản chất là không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp giữa các bên do tính chất đặc thù của loại việc và chỉ một bên đương sự yêu cầu Toà án giải quyết như yêu cầu xác định tình trạng của một cá nhân do sự vắng mặt của họ tại nơi cư trú hoặc yêu cầu xác định năng lực hành vi dân sự của một cá nhân…thì bản chất của những loại việc này không thay đổi trong suốt quá trình Toà án giải quyết. Do vậy, đối với những vụ việc này vấn đề chuyển hoá giữa việc dân sự và vụ án dân sự không được đặt ra. Vấn đề chuyển hoá giữa việc dân sự và vụ án dân sự chỉ đặt ra đối với các vụ việc mà bản chất là không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp giữa các bên do các đương sự đã thoả thuận được với nhau về các tình tiết của sự việc cũng như những quyền và lợi ích giữa các bên và các bên cùng yêu cầu Toà án công nhận làm cơ sở cho việc thi hành án sau này như yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn…v.v. Bởi lẽ trong quá trình Toà án thụ lý, giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự, trên cơ sở nguyên tắc quyền tự định đoạt các bên đương sự có thể thay đổi yêu cầu của mình. Để đáp ứng yêu cầu về tính linh hoạt, mềm dẻo của thủ tục tố tụng dân sự trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế thì việc xây dựng một cơ chế mềm dẻo, là chất kết dính mang tính chuyển tiếp giữa thủ tục giải quyết việc dân sự và thủ tục giải quyết vụ án dân sự là rất cần thiết.

Theo Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31 tháng 3 năm 2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì « Trường hợp các bên yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 28 của BLTTDS, nhưng sau khi Toà án thụ lý và trong quá trình giải quyết việc dân sự các bên có sự thay đổi về thoả thuận, thì cần phân biệt như sau:

a. Nếu các bên thay đổi sự thoả thuận (một phần hoặc toàn bộ) bằng một thoả thuận mới thì Toà án tiếp tục giải quyết việc dân sự theo thủ tục chung;

b. Nếu một hoặc các bên thay đổi sự thoả thuận (một phần hoặc toàn bộ), nhưng không thoả thuận được về vấn đề đã được thoả thuận trước đó và có tranh chấp, thì được coi như đương sự rút đơn yêu cầu. Toà án căn cứ vào Điều 311 và điểm c khoản 1 Điều 192 của BLTTDS ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự. Trong trường hợp này Toà án cần giải thích cho đương sự biết nếu họ vẫn có yêu cầu Toà án giải quyết, thì phải khởi kiện vụ án theo thủ tục chung ».

Vấn đề đặt ra là các Toà án có thể coi đây là một hướng dẫn điển hình để vận dụng trong các trường hợp tương tự hay không. Cụ thể là nếu trong quá trình Toà án giải quyết các việc dân sự không có tranh chấp mà một hoặc các bên thay đổi sự thoả thuận theo hướng có tranh chấp thì Toà án có thể ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự và hướng dẫn đương sự làm đơn khởi kiện vụ án theo thủ tục chung hay không?

Thiết nghĩ, việc Toà án vận dụng các quy định nói trên để ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự và buộc đương sự phải làm đơn khởi kiện lại từ đầu là chưa thực sự hợp lý, bởi vì về mặt ý chí thì có thể chỉ một bên đương sự thay đổi thoả thuận theo hướng có tranh chấp và ngay cả trường hợp việc thay đổi thoả thuận theo hướng có tranh chấp là do các bên đương sự thì về ý chí họ cũng không rút đơn yêu cầu Toà án giải quyết. Thực chất của vấn là ở chỗ yêu cầu tố tụng trước Toà án không mất đi mà chỉ chuyển từ dạng yêu cầu giải quyết việc dân sự do các bên cùng thoả thuận và yêu cầu Toà án công nhận sang dạng có tranh chấp theo yêu cầu của một bên hoặc các bên. Chẳng hạn, lúc đầu hai vợ chồng cùng làm đơn yêu cầu Toà án công nhận sự thuận tình về việc ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn nhưng sau đó một bên đương sự lại không đồng ý ly hôn hoặc các bên vẫn thống nhất ly hôn nhưng lại không thống nhất được với nhau về phân chia tài sản và yêu cầu Toà án giải quyết; sau khi yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn các đương sự lại có tranh chấp về vấn đề này.v.v. Cần nhận thức rằng đương sự chỉ thay đổi yêu cầu chứ không rút toàn bộ yêu cầu, đối tượng của vụ việc mà Toà án đang xem xét không thể bị triệt tiêu, do vậy, không thể làm phức tạp thêm thủ tục bằng cách ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ việc dân sự và buộc đương sự khởi kiện lại từ đầu theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 311 BLTTDS thì Toà án áp dụng những quy định của Chương XX về thủ tục giải quyết việc dân sự, đồng thời áp dụng những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của Chương XX để giải quyết những việc dân sự. Như vậy, về nguyên tắc quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm như quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Vậy nếu quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm thì các đương sự có thể thực hiện quyền khởi kiện vụ án ngay không hay phải chờ Toà án cấp phúc thẩm giải quyết xong kháng cáo, kháng nghị mới có thể thực hiện quyền khởi kiện của mình?

Nếu nhìn rộng ra thì hiện nay các Điều 26, 30, 32 BLTTDS đều có quy định rằng ngoài các loại việc dân sự đã được chỉ rõ trong các điều luật, Toà án còn có thể áp dụng thủ tục giải quyết việc dân sự đối với các việc khác về dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động mà pháp luật có quy định. Đây là các quy định mang tính định hướng trong tương lai và như vậy, theo thiển ý của chúng tôi, sau này các cơ quan có thẩm quyền có thể bổ sung các vụ việc về dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động mà bản chất là không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp giữa các bên do các đương sự đã thoả thuận được với nhau về các tình tiết của sự việc cũng như những quyền và lợi ích giữa các bên và các bên cùng yêu cầu Toà án giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự.

Các việc dân sự này sẽ khác với các việc về hôn nhân gia đình nói trên ở chỗ đương sự chỉ có thể thực hiện quyền khởi kiện trong thời hiệu mà pháp luật quy định. Theo suy luận logic thì phải chăng với cách vận dụng như hiện nay, sau khi Toà án thụ lý giải quyết các việc dân sự này mà đương sự lại thay đổi theo hướng có tranh chấp, Toà án sẽ ra quyết định đình chỉ việc giải quyết việc dân sự và đương sự khởi kiện lại từ đầu theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự. Nếu như theo giải pháp này, có thể sẽ dẫn tới việc đương sự sẽ không thể thực hiện được quyền khởi kiện của mình nếu không muốn nói là mất quyền khởi kiện do thời hiệu khởi kiện đã hết.

Ngoài ra, trong thực tiễn tố tụng dân sự, Toà án nhân dân tối cao cũng đã từng hướng dẫn rằng đối với trường hợp cả hai vợ chồng cùng viết đơn xin thuận tình ly hôn, sau đó một bên cố tình lẩn tránh không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án thì Toà án cần hỏi người còn lại có tiếp tục xin ly hôn nữa hay không. Nếu họ vẫn tiếp tục xin ly hôn thì Toà án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung như trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên. Trong trường hợp họ không có yêu cầu xin ly hôn nữa thì Toà án mới ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án[16].

Từ những phân tích trên, có thể nhận định rằng sẽ là hợp lý hơn nếu có những sửa đổi pháp luật theo hướng trong quá trình Toà án giải quyết việc dân sự mà một hoặc các bên thay đổi sự thoả thuận theo hướng có tranh chấp thì Toà án sơ thẩm sẽ yêu cầu đương sự nộp bổ sung tiền tạm ứng án phí theo vụ án dân sự và sau đó ra quyết định áp dụng thủ tục giải quyết vụ án dân sự để giải quyết yêu cầu có tranh chấp. Sau khi ra quyết định này, Thẩm phán căn cứ vào các quy định của BLTTDS để tiếp tục tiến hành các thủ tục xác minh, thu thập chứng cứ đối với yêu cầu có tranh chấp, nếu hoà giải không thành thì Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử tại phiên toà sơ thẩm. Nếu chúng ta đi theo giải pháp này sẽ phù hợp hơn với thực tiễn tư pháp từ trước tới nay và xu hướng cải cách tư pháp, đơn giản hoá các quy định về thủ tục tố tụng, tạo điều kiện tốt nhất cho người dân có thể tiếp cận công lý. Có thể coi đây sẽ là một đường lối, một chuẩn mực chung mà về lâu dài không chỉ áp dụng riêng cho các việc về hôn nhân, gia đình mà có thể vận dụng cho tất cả các việc dân sự có cùng bản chất trong các lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động.

2.4. Về việc xây dựng các quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn

Việc nghiên cứu pháp luật tố tụng nước ngoài cho thấy rằng pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới bên cạnh thủ tục tố tụng thông thường đều có xây dựng một thủ tục tố tụng giản đơn hoặc thủ tục ra lệnh áp dụng đối với những tranh chấp đơn giản, rõ ràng hoặc giá ngạch thấp. BLTTDS của Pháp, Nga, Trung Quốc và Đài Loan đều có những quy định về thủ tục ra lệnh thanh toán nợ với những khoản nợ có chứng cứ rõ ràng như có khế ước vay nợ viết, nợ do cam kết nhận hoặc rút hối phiếu (LC), ký nhận một kỳ phiếu…Ngoài ra, BLTTDS của những nước này và một số nước như Mỹ, Australia và một số nước Châu á có điều kiện gần gũi và tương đồng với Việt Nam như Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore… đều có những quy định về thủ tục giản đơn đối với những vụ kiện có giá trị nhỏ ( đòi món nợ nhỏ ) do một Thẩm phán giải quyết và phán quyết được đem ra thi hành ngay, đương sự không có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm hoặc hạn chế quyền kháng cáo phá án của đương sự.

Ngược dòng thời gian, chúng ta thấy rằng việc xây dựng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Việt Nam đã gặp không ít gian nan. Việc khởi thảo thủ tục này trong dự thảo có lẽ được bắt đầu từ những năm 1996, 1997. Sau nhiều cuộc hội thảo, mặc dù còn nhiều ý kiến và quan điểm tranh luận rất khác nhau nhưng cuối cùng thủ tục rút gọn đã được xây dựng tại chương XV Dự thảoV BLTTDS gồm 7 điều luật (Điều 234 – Điều 243). Tuy còn có những điểm còn phải chỉnh sửa nhưng các quy định về thủ tục rút gọn này đã phần nào đáp ứng được những đòi hỏi mà thực tiễn giải quyết tranh chấp đặt ra và tiếp thu được những tinh hoa của pháp luật tố tụng dân sự trên thế giới. Cho tới Dự thảo VIII BLTTDS phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn này đã bị thu hẹp bởi 3 điều luật (Điều 267 – Điều 269) tại chương XV với tên gọi là “ Thủ tục yêu cầu thanh toán nợ”. Có thể thấy rằng thủ tục yêu cầu thanh toán nợ trong Dự thảo VIII về cơ bản là sự mô phỏng các quy định về thủ tục ra lệnh thanh toán đối với các món nợ có chứng cứ rõ ràng trong BLTTDS Pháp, Trung Quốc, Nga nhưng lại thiếu vắng các quy định về cơ chế xét xử một lần, phán quyết của Toà án có hiệu lực pháp luật ngay, sự việc chỉ do một Thẩm phán giải quyết đối với những việc kiện có giá trị nhỏ. Rất tiếc rằng, cho tới Dự thảo X và XI thì thủ tục rút gọn đã hoàn toàn không còn tồn tại nữa.

Sau khi BLTTDS ra đời, nhiều ý kiến cho rằng thủ tục giải quyết việc dân sự được quy định từ Điều 311 đến Điều 341 BLTTDS năm 2004 chính là thủ tục rút gọn. Tuy nhiên, việc nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới cho thấy rằng đây chỉ là các thủ tục tố tụng đặc biệt chứ không phải là thủ tục rút gọn theo đúng nghĩa của nó. Nghị quyết số 49 – NQ/TW của Bộ chính trị ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã củng cố cho nhận định này và chỉ rõ cần phải tiếp tục: « …Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định ».

Vấn đề gây nhiều tranh luận khi xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn ở Việt Nam là ngoài việc đơn giản hoá về thủ tục, rút ngắn về thời hạn thì giải quyết vấn đề nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số, nguyên tắc xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia và nguyên tắc xét xử hai cấp như thế nào.

Về vấn đề này tồn tại hai quan điểm trái ngược nhau : Quan điểm thứ nhất cho rằng nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, nguyên tắc xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia và nguyên tắc xét xử hai cấp là những nguyên tắc bất di, bất dịch, do vậy, việc xây dựng thủ tục rút gọn theo hướng vụ việc do một Thẩm phán giải quyết và phán quyết có hiệu lực pháp luật ngay là không phù hợp với thực tiễn lập pháp của Việt Nam. Ngược lại, những người theo quan điểm ủng hộ cải cách thì cho rằng cần thiết phải xây dựng trong BLTTDS một thủ tục tố tụng dân sự rút gọn theo mô hình của một số nước như Pháp, Úc, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản…Theo đó, một Thẩm phán có thể độc lập giải quyết tranh chấp.

Xét trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam thì tuy không có những quy định về thủ tục rút gọn nhưng trong các quy định về tố tụng dân sự của Việt Nam cũng đã chứa đựng những nhân tố mang tính chất tiền đề cho việc xây dựng thủ tục này. Cơ chế xét xử một Thẩm phán đã từng được quy định tại Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946. Theo Điều 10 Sắc lệnh này thì đối với Toà án sơ cấp « tại phiên toà, Thẩm phán xét xử một mình Lục sự giữ bút ký, lập biên bản án từ » và đối với Toà án đệ nhị cấp, Điều 17 Sắc lệnh cũng quy định « về dân sự và thương sự, Chánh án xử một mình nhưng khi xử các việc tiểu hình phải có thêm hai viên phụ thẩm nhân dân góp ý kiến ».

Sau này, trên cơ sở quy định của các Hiến pháp năm 1959, 1980 và1992, các Điều 12 Luật Tổ chức Toà án năm 1960, Điều 7 Luật Tổ chức Toà án 1981, Điều 6 Luật Tổ chức Toà án năm 1992, Điều 6 Luật Tổ chức Toà án năm 2002, Điều 14 BLTTDS 2004 đều có quy định về nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Theo nguyên tắc này thì việc xét xử phải được tiến hành bởi một Hội đồng xét xử gồm nhiều thành viên. Hiện nay, theo quy định tại Điều 55 BLTTDS 2004 thì thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Trong trường hợp đặc biệt thì thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân. Thế nhưng, cơ chế giải quyết bằng một Thẩm phán vẫn được nhà lập pháp ghi nhận tại Điều 55 BLTTDS đối với các việc dân sự không có tranh chấp.

Thiết nghĩ, trong điều kiện hiện nay cần phải khôi phục lại các quy định về cơ chế xét xử một Thẩm phán, trao cho Thẩm phán thẩm quyền độc lập trong việc giải quyết các vụ tranh chấp đơn giản, rõ ràng, không có tranh tụng hoặc các vụ tranh chấp có giá trị không lớn. Qua tham khảo pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài có thể thấy rằng pháp luật tố tụng dân sự của các nước trên thế giới có quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn thì việc xét xử đều giao cho một Thẩm phán đảm nhiệm. Ở Việt Nam, mặc dù tại các Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1960, 1981, 1992, 2002 đều quy định rằng Toà án xét xử và quyết định theo đa số nhưng không phải là không có ngoại lệ. Chẳng hạn điều 12 Luật Tổ chức Toà án năm 1960 quy định « Toà án nhân dân thực hành chế độ xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Khi sơ thẩm, Toà án nhân dân gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân; trường hợp xử những vụ án nhỏ, giản đơn và không quan trọng thì Toà án nhân dân có thể xử không có Hội thẩm nhân dân ».

Theo pháp luật tố tụng của Pháp thì « Appel » – Kháng án phúc thẩm là một hình thức kháng án theo thông luật (thông thường) nhằm cải sửa hoặc huỷ bỏ, theo đó bên kháng án đưa vụ kiện ra trước một Toà án cấp cao hơn, thậm chí có thể đưa ra trước cùng một Toà án với một hội đồng xét xử khác (kháng án phúc thẩm những quyết định sơ thẩm của Toà đại hình)[17]. Trong tố tụng dân sự Pháp, kháng án phúc thẩm là một hình thức kháng án theo thông luật (thông thường) và là hình thức kháng án nhằm cải sửa hoặc huỷ bỏ, theo đó bên tự cho là bị thương tổn bởi một phán quyết, đưa vụ kiện và phán quyết ra trước các Thẩm phán ở một cấp cao hơn[18].

Về phương diện lịch sử, ở Pháp kháng án phúc thẩm phát sinh từ việc khẳng định quyền lực của nhà Vua đối với công lý lãnh chúa và sau này đã được duy trì trong lĩnh vực dân sự dưới thời Đại cách mạng Pháp, dưới thể thức kháng án chu luân (appel circulaire) theo danh nghĩa của nguyên tắc bình đẳng[19]. Theo thể thức này, không có sự kháng cáo từ Toà dưới lên Toà trên, mà chỉ có sự xê dịch hàng ngang giữa các Toà án bình đẳng[20]. Các quy định về phương thức kháng cáo này đã được kế thừa và phát triển trong BLTTDS Pháp 1807 và có lẽ được du nhập vào Việt Nam dưới thời Pháp thuộc trong lĩnh vực tố tụng dân sự bằng Nghị định ngày 16/3/1910. Về phương diện lý luận, việc quy định nguyên tắc xét xử hai cấp trong pháp luật tố tụng dân sự là xuất phát từ quan niệm Thẩm phán cũng là con người nên rất có thể có sự nhầm lẫn, sai sót khi xét xử các vụ việc vì vậy cần phải có phương tiện sửa chữa, cần phải để cho một Toà án cấp cao hơn xem xét lại nội dung vụ việc một lần nữa cho thấu đáo hơn. Suy cho cùng mục đích của việc đặt ra nguyên tắc này là nhằm tạo điều kiện cho Toà án có thể xem xét sự việc một cách kỹ lưỡng, tránh những sai sót, đảm bảo cho việc giải quyết vụ kiện của Toà án là đúng đắn, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự. Song không nhất thiết mọi vụ kiện đều phải xử qua hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm. Bởi vì đối với những vụ kiện mà việc giải quyết là khó khăn, phức tạp thì áp dụng nguyên tắc xét xử hai cấp là rất cần thiết nhưng có những vụ việc áp dụng nguyên tắc này sẽ kéo dài thời gian giải quyết, gây tổn phí cho Nhà nước và đương sự một cách không cần thiết. Đó chính là những vụ kiện có chứng cứ rõ ràng, bị đơn thừa nhận nghĩa vụ; những vụ kiện có giá ngạch thấp.

Đối với loại vụ kiện có chứng cứ rõ ràng, một bên đương sự thừa nhận nghĩa vụ thì xét về bản chất đây là loại việc không có tranh tụng cả về chứng cứ và về quyền, nghĩa vụ giữa các bên đương sự. Nếu quy định bị đơn có quyền kháng cáo đối với bản án của Toà án trong trường hợp này thì bị đơn sẽ có thể lợi dụng pháp luật kháng cáo nhằm kéo dài vụ án, trì hoãn việc thi hành nghĩa vụ của mình. Vô hình chung pháp luật đã tạo điều kiện cho người không có thiện chí trong việc thực hiện nghĩa vụ có thể trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ gây thiệt hại cho quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn. Thiết nghĩ, để bảo vệ kịp thời quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn vẫn cần thiết phải quy định phán quyết của Thẩm phán đối với những loại vụ kiện có những chứng cứ rõ ràng, một bên đương sự thừa nhận nghĩa vụ, sẽ có hiệu lực pháp luật ngay. Tuy nhiên, việc nghiên cứu thiết lập một cơ chế chuyển hoá giữa thủ tục xét xử rút gọn và thủ tục thông thường cũng là một giải pháp nhằm bảo vệ quyền lợi của các bị đơn « ngay tình » và « trung thực » chống lại sự lạm quyền của bên đi kiện. Cụ thể là cần quy định quyết định của Toà án buộc thanh toán nợ không bị phản kháng trong một thời hạn nhất định sẽ có hiệu lực thi hành. Ngược lại, trong trường hợp người bị kiện phản đối quyết định của Toà án buộc thanh toán nợ (kháng án) thì vụ kiện sẽ lập tức được đưa ra xét xử tại phiên toà sơ thẩm. Thế nhưng, làm thế nào để chống lại việc bị đơn lạm dụng quyền kháng án nhằm trì hoãn việc thi hành nghĩa vụ ? Thiết nghĩ, việc xây dựng các quy định về phạt tiền đối với đương sự lạm dụng quyền kháng án và rút ngắn thời hạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm cũng là một giải pháp có tính khả thi để hoá giải việc lạm dụng quyền kháng cáo của các tụng nhân thiếu trung thực[21].

Qua tham khảo pháp luật tố tụng dân sự ở một số nước có quy định về thủ tục rút gọn có thể thấy rằng các nước này đều có quy định hạn chế quyền kháng cáo phúc thẩm hoặc kháng cáo phá án của đương sự đối với những vụ việc có giá ngạch thấp. Trước thách thức về sự gia tăng các vụ kiện liên biên giới giữa các quốc gia trong Liên minh Châu Âu, các nhà nghiên cứu về tố tụng học của Liên minh này đã nghiên cứu xây dựng các quy định về thủ tục tố tụng giản đơn áp dụng đối với những vụ kiện có giá ngạch thấp[22]. Theo đó, Liên minh Châu Âu không áp đặt các quốc gia phải ghi nhận quyền kháng cáo của đương sự đối với vụ kiện có giá ngạch thấp, vấn đề có cho phép đương sự kháng cáo hay không đối với những vụ kiện này là do do nội luật của các quốc gia quy định. Có lẽ đây cũng là hình mẫu có giá trị tham khảo và định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật của khối Đông Nam Á trong tương lai. Tuy nhiên, việc xây dựng các định chế tương tự về tố tụng dân sự trong khối chỉ đặt ra khi mà thực tiễn thương mại và tranh chấp thương mại liên quốc gia trong khối Đông Nam Á thực sự đòi hỏi. Dù sao cái nhìn khoáng đạt của Liên minh Châu Âu về nguyên tắc hai cấp xét xử đối với những vụ kiện liên biên giới có giá ngạch thấp cũng cho thấy rằng việc các quốc gia không ghi nhận quyền kháng cáo phúc thẩm của đương sự với vụ kiện có giá ngạch thấp cũng không vi phạm quyền con người và các quyền cơ bản của công dân.

Xét ở Việt Nam, mặc dù quy định việc xét xử của Toà án phải qua hai cấp là sơ thẩm và phúc thẩm nhưng không phải là không có ngoại lệ. Cơ chế xét xử một lần tức là xét xử sơ thẩm nhưng bản án của Toà án có hiệu lực ngay đã từng tồn tại. Theo các Sắc lệnh số 51/SL “Ấn định thẩm quyền các Toà án và sự phân công giữa các nhân viên trong Toà án” ngày 17/4/1946, Sắc lệnh số 85/SL “Về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng” ngày 22/5/1980 thì cơ chế xét xử một lần được áp dụng đối với những vụ kiện mà đối tượng tranh chấp là những tài sản có giá trị nhỏ và được thực hiện ở các Toà án sơ cấp và đệ nhị cấp. Rất tiếc rằng, sau này theo Luật Tổ chức Toà án năm 1960, Luật Tổ chức Toà án nhân dân 1981 thì việc xét xử hai cấp đã chính thức được ghi nhận thành một nguyên tắc do vậy cơ chế này không còn được áp dụng nữa.

Hiện nay, theo Điều 11 Luật Tổ chức Toà án nhân dân 2002, Điều 17 BLTTDS 2004 thì việc xét xử theo hai cấp là sơ thẩm và phúc thẩm được ghi nhận là một nguyên tắc cơ bản như đã từng quy định trong các Luật Tổ chức Toà án 1960, 1981. Thế nhưng, xét thực tiễn giải quyết các án kiện trong những năm qua cũng cho thấy những tranh chấp có giá ngạch thấp thường có nội dung đơn giản, trên cơ sở đoàn kết, tương thân, tương ái các bên tự thương lượng giải quyết hoặc có yêu cầu Toà án giải quyết thì ít khi đương sự kháng cáo yêu cầu Toà án cấp trên xem xét lại. Tuy vậy, cũng có một số trường hợp mặc dù tranh chấp tài sản có giá ngạch thấp nhưng do mâu thuẫn cá nhân hoặc do tâm lý nếu không kháng cáo thì mặc nhiên thừa nhận lỗi thuộc về mình cho nên người thua kiện mặc dù không có chứng cứ phản bác lại bản án sơ thẩm nhưng vẫn kháng cáo yêu cầu Toà án cấp trên xem xét lại. Để phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái của người Việt, tránh việc kiện tụng tuy rất nhỏ nhặt nhưng vẫn phải qua nhiều lần xét xử thì việc khôi phục lại các quy định về cơ chế xét xử một lần đối với những tranh chấp có giá ngạch thấp là rất cần thiết. Xét theo tư duy kinh tế tư pháp của phương Tây thì cơ chế xét xử này đáp ứng được yêu cầu về tính hiệu quả của thủ tục tố tụng trong việc giải quyết tranh chấp. Dưới góc nhìn nhân bản của phương Đông, có thể xem quy định về cơ chế xét xử một lần đối với việc kiện có giá trị nhỏ là một quy định có giá trị nhân văn trong việc định hướng văn hoá tư pháp ở Việt Nam, góp phần mở rộng tâm hồn và đề cao tinh thần khoáng đạt trong cách hành xử của đại chúng trong việc giải quyết tranh chấp.

Qua tham khảo pháp luật các nước có quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn cho thấy tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế mỗi nước, thu nhập của người dân cũng như quan niệm của nhà lập pháp mà quy định về vụ kiện có giá ngạch thấp ở mỗi nước cũng khác nhau. Chẳng hạn, Pháp dưới 25.000 francs, Nhật Bản dưới 900.000 yên, Đài Loan không quá 4.000 USD, Hàn Quốc dưới 5.000.000 won, Thái Lan không quá 50.000 bạt…

Ở Việt Nam, theo “Bắc kỳ Pháp viện biên chế” được công bố bằng Nghị định ngày 2/12/1921 được thi hành tại toàn cõi Bắc kỳ thì Toà án sơ cấp có thẩm quyền sơ thẩm và chung thẩm nếu giá ngạch không quá 30 đồng bạc (Điều 6); Toà án tỉnh có quyền sơ thẩm và chung thẩm nếu giá ngạch quá 30 đồng bạc và không tới 100 đồng bạc (Điều 13). Tại Trung – Việt, theo Nghị định ngày 20/10/1947 của Hội đồng chấp chánh lâm thời Trung kỳ về sửa đổi giá ngạch cũ có quy định: Các Toà đệ nhị cấp xử chung thẩm các việc tương tranh động sản hoặc đối với người, việc thương sự; việc đòi tiền bồi hoàn hay bồi thường với giá ngạch trên 500 $ nhưng dưới 1500 $, về bất động sản theo giá ngạch đồng niên không quá 150 $ (Điều 19). Ở Miền nam Việt Nam, theo Sắc lệnh ngày 27/12/1943: “Toà xử sơ thẩm và chung thẩm các tố quyền đối nhân và động sản đến mức 7.500 quan tức 750$ hay 750 giạ lúa (mỗi giạ trọng lượng độ 20 ki lô), các tố quyền bất động sản lợi tức đồng niên 40 giạ lúa hay 300 quan hay 30$ mỗi năm. Theo Điều 16 Bộ luật dân sự và thương sự ngày 20/1/1972 của chính quyền Sài Gòn thì những vụ kiện về động sản có giá trị dưới 60.000đ (thời điểm 1972) được coi là có giá ngạch thấp[23].

Như vậy, có thể thấy rằng, ngay ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc thì việc xác định vụ kiện có giá ngạch thấp ở ba miền Bắc – Trung – Nam cũng có sự khác nhau. Nếu dựa trên cơ sở thực tế về vụ kiện có giá ngạch thấp đã từng được áp dụng ở Việt Nam thì 750 giạ lúa tương đương 15 tấn, 40 giạ lúa tương đương 800 ki lô. Thiết nghĩ, không nên ấn định vụ kiện có giá ngạch thấp bằng một khoản tiền cố định trong BLTTDS vì giá cả thị trường, đời sống có sự biến động thường xuyên, trong khi đó một Bộ luật thì không phải lúc nào cũng có thể dễ dàng sửa đổi. Do vậy, nên đặt ra một tiêu chí chung xác định vụ kiện có giá ngạch thấp được giải quyết theo thủ tục rút gọn. Sau này nếu có sự thay đổi thì có thể quy định chi tiết trong các văn bản hướng dẫn.

2.5. Về việc hoàn thiện pháp về thủ tục thi hành án dân sự tại Việt Nam

Trên thế giới hiện nay tồn tại nhiều mô hình thi hành án dân sự khác nhau. Ở Pháp, Bỉ, Hà Lan thì Nhà nước không nắm trong tay tất cả các đặc quyền mà thông thường do Nhà nước nắm giữ như ở một số nước khác. Nét đặc thù này thể hiện qua việc Nhà nước trao cho Thừa phát lại trách nhiệm thi hành các bản án dân sự do Toà án tuyên. Thừa phát lại không phải là công chức Nhà nước, được hành nghề theo quy chế tự do và hưởng thù lao từ lệ phí thi hành án thu được theo tỷ lệ nhất định[24]. Ngược lại, Thụy Điển, Trung Quốc, Nga, Thái Lan, Singapore và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây lại theo mô hình thi hành án công, tổ chức thi hành án bao gồm hệ thống các cơ quan thuộc bộ máy Nhà nước, các Chấp hành viên là công chức, viên chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Ngoài ra, một số nước như Nhật Bản, Đức, Hà Lan, Áo, Thuỵ Sỹ… theo mô hình tổ chức thi hành án bán công, việc thi hành án do viên chức thi hành án đảm nhiệm nhưng trên nguyên tắc tự lấy thu bù đắp chi phí thi hành án.

Xét thực tiễn thi hành án ở Việt Nam dưới thời kỳ Pháp thuộc thì việc thi hành án không do cơ quan thi hành án của Nhà nước thực hiện mà việc thi hành án do Thừa phát lại đảm nhiệm. Thừa phát lại do Nhà nước bổ nhiệm nhưng không phải là công chức nhà nước, không hưởng lương từ ngân sách nhà nước mà được trả thù lao từ các khoản lệ phí thu được từ người được thi hành án theo một tỉ lệ nhất định. Từ năm 1950, trên cơ sở Điều 19 Sắc lệnh số 85/ SL ngày 22/5/1950 “Về cải cách bộ máy Tư pháp và Luật tố tụng” thì việc thi hành án dân sự được giao Toà án đảm nhiệm. Cho đến năm 1993, sau khi Nhà nước ban hành Pháp lệnh thi hành án mới ngày 21/4/1993 thì việc tổ chức thi hành án dân sự được bàn giao cho cơ quan thi hành án dân sự thực hiện, các Toà án không còn đảm nhận công tác thi hành án dân sự nữa. Theo pháp luật hiện hành, việc thi hành các bản án, quyết định của Toà án vẫn thuộc trách nhiệm của các cơ quan nhà nước mà cụ thể là các cơ quan thi hành án dân sự.

Sau hơn mười năm áp dụng mô hình thi hành án công do các cơ quan thi hành án dân sự thực hiện, bên cạnh những ưu điểm của nó cũng bộc lộ những hạn chế, dẫn tới quyền lợi hợp pháp của ngư­ời đ­ược thi hành án không đ­ược bảo đảm, việc thi hành án bị kéo dài. Trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay việc tìm kiếm giải pháp để khắc phục những nhược điểm của mô hình thi hành án công là cần thiết. Nghị quyết số 49 – NQ/TW của Bộ chính trị ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ cần phải “…làm thí điểm ở một số địa phương về chế định Thừa phát lại, từng bước xã hội hoá các hoạt động bổ trợ tư pháp”. Để triển khai thực hiện chủ trương này, Quốc hội đã giao cho Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số địa phương, trên cơ sở đó tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện thí điểm và báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định[25]. Theo tinh thần này, bên cạnh cơ quan thi hành án dân sự của Nhà nước, việc thi hành án dân sự sẽ do Thừa phát lại thực hiện.

Trên thực tế, nhiều cuộc hội thảo đã được tiến hành nhằm tiếp thu những điểm hợp lý của mô hình thi hành án tư của một số nước như Pháp, Bỉ, Hà Lan… khắc phục những điểm hạn chế của việc thi hành án do các cơ quan công quyền thực hiện. Mặc dù vậy, việc tiếp thu các quy định của pháp luật tố tụng nước ngoài về vấn đề này cũng có nhiều ý kiến khác nhau:

– Loại ý kiến thứ hai cho rằng, chủ trương xã hội hoá công tác thi hành án là đúng đắn và cần thiết nhằm giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước trong công tác thi hành án. Tuy vậy, cần phải có bước đi thích hợp, thận trọng[26].

Thiết nghĩ, việc cho phép các Chấp hành viên có năng lực tổ chức và chuyên môn đứng ra thành lập các văn phòng Thừa phát lại về thi hành án dân sự là cần thiết và hoàn toàn có cơ sở. Một mặt, sẽ tạo ra được một sự cạnh tranh giữa công bằng giữa các cơ quan thi hành án, các Chấp hành viên, Thừa phát lại sẽ làm việc hết sức mình, hiệu quả của công tác thi hành án sẽ được nâng cao. Mặt khác, người đứng ra thành lập văn phòng Thừa phát lại sẽ phải chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình và họ có quyền lựa chọn các nhân viên thực sự có năng lực vào làm việc. Do vậy, đối với tất cả các tổ chức thi hành án thì uy tín, chất lượng, hiệu quả sẽ được coi trọng, từ đó sẽ khắc phục được tình trạng chậm chạp, quan liêu, tạo ra được sự linh hoạt, hiệu quả trong công tác thi hành án. Hy vọng rằng sự việc tổ chức thí điểm mô hình Thừa phát lại trong thi hành án dân sự sẽ là một bước đột phá, có thể đem lại cho người dân một « dịch vụ công hoàn hảo » trong việc bảo vệ quyền lợi của mình. Để đảm bảo sự thành công của việc thí điểm mô hình Thừa phát lại trong thi hành án dân sự, tạo đà cho những bước đột phá trong cải cách sau này, cần phải lưu ý một số vấn đề sau đây :

– Cần phải xây dựng một cơ chế phối hợp và ràng buộc trách nhiệm giữa các cơ quan thi hành án với nhau. Cụ thể là cần quy định rõ nguyên tắc hưởng phí thi hành án và trách nhiệm giữa văn phòng Thừa phát lại nhận được yêu cầu thi hành án và văn phòng Thừa phát lại hoặc cơ quan thi hành án nhận được uỷ thác thi hành án.

– Thiết lập ở Toà án các cấp Thẩm phán phụ trách về thi hành án. Vị Thẩm phán này có nhiệm vụ hỗ trợ Thừa phát lại trong việc ra các lệnh về thi hành án, đề nghị Toà án nơi mình công tác giải thích bản án, quyết định, cũng như giải quyết các khó khăn, tranh chấp về tài sản khi thi hành án.

– Đối với việc thi hành các quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời thì cần có những quy định theo hướng ngay từ khi yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, đương sự có quyền đề nghị Toà án giao cho văn phòng Thừa phát lại hoặc cơ quan thi hành án của Nhà nước thi hành. Trong trường hợp đương sự không định đoạt về vấn đề này thì Toà án chuyển giao bản sao bản án, quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời cho cơ quan thi hành án của Nhà nước tổ chức thi hành.

Như vậy, việc nghiên cứu « Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế » cho thấy rằng trong quá trình xây dựng BLTTDS, các nhà lập pháp của chúng ta đã tiếp thu được các quy định hợp lý trong pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới để hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Chẳng hạn như sự tiếp nhận các yếu tố của tố tụng xét hỏi và tranh tụng, các quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng như các quy định về thủ tục rút gọn, về xã hội hoá hoạt động thi hành án.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được cũng còn nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài và tìm kiếm giải pháp khắc phục cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Như đã phân tích ở trên, khi tiếp nhận các yếu tố của thủ tục tố tụng tranh tụng và xét hỏi trong pháp luật tố tụng dân sự các nước vào nội luật, chúng ta cần nghiên cứu để xây dựng các quy định mang tính chuyển tiếp cho phù hợp với điều kiện thực tiễn và đặc điểm tâm lý của người Việt Nam. Cụ thể là khi tiếp nhận các quy định về thủ tục tố tụng tranh tụng của các nước theo truyền thống common law như Anh, Mỹ, Australia…chúng ta phải tính đến những đặc điểm riêng biệt của Việt Nam như đặc điểm về một nền văn minh nông nghiệp lúa nước, người dân Việt sống hướng nội và có « khuynh hướng duy hoà »[27] hơn là chủ động tranh đấu để tự bảo vệ quyền lợi cá nhân như ở các nước phương Tây. Sự kết hợp mềm dẻo, linh hoạt giữa vai trò chứng minh của các đương sự và vai trò của Thẩm phán trong việc đôn đốc thủ tục theo đặc điểm dân cư của từng vùng lãnh thổ, đề cao vai trò hoà giải tranh chấp của những người có uy tín trong bản làng nơi có đồng bào dân tộc sinh sống là việc làm hợp lẽ và cần thiết. Việc tham khảo pháp luật nước ngoài nhằm hoàn thiện các quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, xây dựng cơ chế chuyển hoá giữa việc dân sự và vụ án dân sự trong BLTTDS là những việc cần tiếp tục được nghiên cứu và thực hiện. Ngoài ra, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự của các nước như Mỹ, Úc, Pháp, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản…để vận dụng xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn, khôi phục lại các quy định về mô hình thi hành án dân sự tư nhân do Thừa phát lại thực hiện ở nước ta là những việc làm còn nhiều khó khăn và thử thách. Thế nhưng, đó là bổn phận thiêng liêng và sứ mệnh cao cả mà nhà lập pháp Việt Nam cần phải thực hiện đối với nhân dân của mình !

[1] Nhận xét này được rút ra từ việc khảo sát thực tiễn giải quyết tranh chấp dân sự tại một số vùng núi phía Bắc Việt Nam, nơi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

[2] Trong tục ngữ Việt Nam có câu « Vô phúc đáo tụng đình, tụng đình rình vô phúc », Ngọc Lan, « Tục ngữ Việt Nam chọn lọc », Nxb Văn hoá – Thông tin 2007, tr. 111.

[3] Xem Trần Quốc Vượng, « Văn hoá Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm », Nxb Văn học 2003, tr. 746.

[4] Ngọc Liên, Thuần Tâm, « Triết lý Phật Thích Ca », Nxb Tri thức 1972, tr 54, 55 ; Ayya Khema, « Vô ngã vô ưu », Nxb Phương Đông 2008, tr. 109, 122 ; Gehlek Rimpoche, « Sống chết an lành », Nxb Phương Đông 2007, tr. 49, 80, 92, 93.

[5] Theo Điều 511 Quốc triều Hình luật thì « Con cháu kiện nhau với ông bà, cha mẹ, ông bà ngoại cùng là vợ kiện ông bà, cha mẹ chồng, đều phải biếm một tư ; nếu lý lẽ trái thì xử thêm tội một bậc ». Dưới góc nhìn của Nho giáo thì đây là quy định phù hợp với quy tắc ứng xử và đạo đức Đông phương. Tuy nhiên, dưới góc nhìn về quyền con người thì quy định này được coi là một hạn chế.

[6] Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Đẩu thì văn bản này được gọi tên là Bộ dân sự tố tụng hiện hành tại Nam Việt (Xem Nguyễn Huy Đẩu , « Luật dân sự tố tụng Việt Nam », xuất bản tại Sài Gòn năm 1968, tr. 20).

[7] Xem Điều 3 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989; Điều 3, 4 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Điều 3 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996

[8] Xem Điều 6 và các điều từ Điều 85 đến Điều 98 BLTTDS.

[9] Xem các điều 222, 232, 233 BLTTDS.

[10] Xem Jean Vincent et Serge Guinchard, « Procédure civile Droit interne et droit communautaire», Nxb DALLOZ, 2006, tr 250.

[11] Xem Pierre ESTOUP, « La pratique des procédures rapides » , Nxb LITEC, 1990, tr 3, 285 , 327.

[12] Xem Jean – Marie COULON, Kỷ yếu Hội thảo pháp luật tố tụng dân sự, Nhà Pháp Luật Việt-Pháp, 1998, tr 38, 39, 40. áp dụng các Điều 808, 809 BLTTDS Pháp, Chánh án toà sơ thẩm thẩm quyền rộng có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế trả nhà đối với người thuê nhà không có hợp đồng thuê hoặc chỉ định một uỷ viên quản trị tạm thời một công ty trong trường hợp công ty không thể hoạt động do có sự bất đồng giữa các cổ đông, cưỡng chế một người thuê nhà ra khỏi nhà vì ngôi nhà có nguy cơ bị sụp đổ, quyết định cấm cạnh tranh bất hợp pháp, cấm phát hành các ấn phẩm có nội dung xâm phạm đời tư của cá nhân.

[13] Xem Điều 13, chương II; Điều 4, chương IV Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ ngày 13/7/2000; Jean Vincent et Serge Guinchard, « Procédure civile Droit interne et droit communautaire», Nxb DALLOZ, 2006, tr. 314, 758, 768, 769; §iÒu 93 BLTTDS cña n­íc Céng hoµ nh©n d©n Trung Hoa.

[14] Xem Nouveau Code de procédure civile, édition Dalloz, 2007, tr. 317 ; Jean Vincent et Serge Guinchard, « Procédure civile Droit interne et droit communautaire», Nxb DALLOZ, 2006, tr 317.

[15] Xem Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương VII « Các biện pháp khẩn cấp tạm thời » của Bộ luật tố tụng dân sự.

[16] Xem Công văn số 62/2001/KHXX ngày 13/6/2001 của Toà án nhân dân tối cao.

[18] Serge Guinchard, Frédérique Ferrand, « Procédure civile Droit interne et droit communautaire », édition Dalloz, 2006, page 1166.

[19] Serge Guinchard, Frédérique Ferrand, sách đã dẫn, tr. 1166.

[20] Nguyễn Huy Đẩu, « Luật dân sự tố tụng Việt Nam », Sài Gòn 1962, tr. 114.

[21] Giải pháp này cũng xuất phát từ ý tưởng về kiểm soát và định hướng hành vi của các tụng nhân theo « con đường chính » bằng pháp luật tố tụng theo triết lý của Phật giáo và Nho giáo.

[22] Serge Guinchard, Frédérique Ferrand, sách đã dẫn, tr. 871.

[23] Xem « Luật dân sự tố tụng Việt Nam » – Nguyễn Huy Đẩu – xuất bản năm 1962 tại Sài Gòn, tr 255, 256

[24] Xem « L‘Huissier de Justice » – Tài liệu do Hội đồng Thừa phát lại Pháp ấn hành tháng 2/1994, tr 4.

[25] Nghị quyết số 24/2008/QH 12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội khoá XII.

[26] Xem Tờ trình số 31/TTr- CP ngày 4/4/2008 của Chính phủ về Dự án LTHADS, tr. 9; Báo cáo tổng hợp ý kiến tham gia của Bộ, ngành, địa phương đối với DTLTHADS 2008, tr. 5. Có thể nhận xét rằng dù Việt Nam đã hội nhập quốc tế nhưng sự thay đổi cơ chế trong luật pháp là vấn đề không đơn giản, con đường để một cơ chế mới đứng vững trong luật pháp có lẽ còn nhiều gập ghềnh và khúc khuỷu. Bởi vì sự thay đổi này gắn liền với sự thay đổi quan niệm trong nhận thức, thay đổi thói quen trong lề lối làm việc và thay đổi cả quyền lợi của các chủ thể trong việc thực thi quyền lực được trao. Tuy nhiên, trong một xã hội văn minh thì pháp luật phải là phương tiện để phụng sự dân chúng, đem lại cho họ những « dịch vụ công » hoàn hảo nhất mà họ xứng đáng và cần phải được hưởng.

[27] Xem Trần Quốc Vượng, Văn hoá Việt Nam – Tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn học 2003, tr. 121, 901.

Nguồn: Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển bền vững, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2009.

Nguồn Chứng Cứ Trong Pháp Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam / 2023

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT

NGUYỄN NHẬT LỆ

NGUỒN CHỨNG CỨ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN TẤT VIỄN

HÀ NỘI – 2014

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Nhật Lệ

Lý luận chung về nguồn chứng cứ ……………………………………………. 7

1.1.1. Nhận thức về nguồn chứng cứ ……………………………………………………. 7 1.1.2. Khái niệm nguồn chứng cứ, vai trò của nguồn chứng cứ trong việc chứng minh tội phạm ………………………………………………………… 10 1.2.

Đặc điểm của các loại nguồn chứng cứ …………………………………… 20

1.2.1. Vật chứng ………………………………………………………………………………. 20 1.2.2. Lời khai của những người tham gia tố tụng ………………………………… 21 1.3.

Nguồn chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự một số quốc gia trên thế giới …………………………………………………………………………… 32

1.3.1. Nguồn chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự của các nước theo mô hình tố tụng thẩm vấn…………………………………………………………. 32 1.3.2. Nguồn chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự của các nước theo mô hình tố tụng tranh tụng. ………………………………………………………. 36 1.3.3. Nguồn chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự của các nước theo mô hình kết hợp tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn. ……………… 41 Chương 2: NGUỒN CHỨNG CỨ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KÌ…………………………… 47

2.1.

Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về nguồn chứng cứ qua các thời kỳ lịch sử ………………………………………………………………….. 47

2.1.1. Nguồn chứng cứ trong pháp luật phong kiến Việt Nam ……………….. 47 2.1.2.

Nguồn chứng cứ trong pháp luật TTHS Việt Nam từ khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công cho đến khi ban hành BLTTHS năm 1988 …………………………………………………………………. 52

2.1.3. Pháp luật Việt Nam về nguồn chứng cứ theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 …………………………………………………………………………… 57 2.2.

Thực trạng sử dụng nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự Việt Nam……………………………………………………………………………….. 64

2.2.1. Những kết quả đạt được trong thực tế sử dụng nguồn chứng cứ trong các vụ án hình sự ……………………………………………………………. 64 2.2.2. Những hạn chế, vướng mắc trong thực tế sử dụng nguồn chứng cứ trong các vụ án hình sự………………………………………………………… 72 Chương 3: KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ ĐẢM BẢO HIỆU QUẢ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NGUỒN CHỨNG CỨ TRONG CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ ……………………………………………..84 3.1.

Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về nguồn chứng cứ trong các vụ án hình sự … 84

3.2.

Yêu cầu đặt ra đối với việc đổi mới, hoàn thiện chế định nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự ……………………………………. 91

3.3.

Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về nguồn chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam ……………. 92

3.3.1. Về khái niệm chứng cứ ……………………………………………………………. 93 3.3.2. Mở rộng nguồn chứng cứ …………………………………………………………. 94 3.3.3. Xác định quyền thu thập chứng cứ trong tố tụng hình sự – Luật sư, người bào chữa cũng có quyền thu thập chứng cứ ………………….. 96

3.3.4. Về các nguyên tắc thu thập chứng cứ ………………………………………… 98 3.3.5. Về chế định giám định …………………………………………………………….. 99 3.3.6. Xây dựng Luật về chứng cứ nhằm nâng cao chất lượng xét xử án hình sự …………………………………………………………………………………. 101 3.4.

Một số kiến nghị nhằm đảm bảo hiệu quả quy định pháp luật về nguồn chứng cứ……………………………………………………………….. 103

KẾT LUẬN …………………………………………………………………………………….. 108 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………… 109

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TT

Viết tắt

Nội dung từ

1.

BLHS

Bộ luật hình sự

2.

BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự

3.

CQĐT

Cơ quan điều tra

4.

CQTHTT

Cơ quan tiến hành tố tụng

5.

DVBC

Duy vật biện chứng

6.

KSV

Kiểm sát viên

7.

TA

Tòa án

8.

TNHS

Trách nhiệm hình sự

9.

VKS

Viện kiểm sát

DANH MỤC BẢNG Số hiệu bảng

Tên bảng

Bảng 2.1: Tỉ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa 2009-2012

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đi cùng với sự phát triển của xã hội ngày nay, vấn đề tội phạm đang ngày một gia tăng và có những diễn biến hết sức phức tạp. Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm luôn được Đảng và Nhà nước ta xem là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Phòng ngừa và điều tra, xử lý tội phạm là hai mặt của nhiều vấn đề mà giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của công dân và toàn xã hội. Để phát hiện và xử lý chính xác, khách quan tội phạm và người phạm tội, việc làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, để làm được như vậy thì cần phải có chứng cứ. Hay nói cách khác, chứng cứ là phương tiện duy nhất được các cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng để làm sáng tỏ vụ án. Trong bất kỳ vụ án hình sự nào, chứng cứ luôn là một vấn đề không thể thiếu nhằm chứng minh một người có thực hiện hành vi phạm tội hay không. Chỉ có chứng cứ hợp pháp mới có giá trị chứng minh tội phạm. Một trong những điều kiện để chứng cứ được coi là hợp pháp là nó phải được rút ra từ một trong các nguồn chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 64 BLTTHS Việt Nam năm 2003. Việc nghiên cứu nguồn chứng cứ nói chung và nguồn chứng cứ trong vụ án hình sự nói riêng có một ý nghĩa lớn không chỉ về mặt pháp lý mà còn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Nguồn chứng cứ được hiểu là nơi cung cấp những tài liệu quan trọng để rút ra những chứng cứ có giá trị chứng minh sự thật khách quan của vụ án. Do đó, nếu không tìm được nguồn chứng cứ sẽ không thể có chứng cứ giải thích, làm sáng tỏ các tình tiết và diễn biến của vụ án, kéo theo hậu quả là các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ đưa ra những kết luận không đúng, không chính xác và không đầy đủ đối với vụ án hình sự. Việc làm rõ lý luận và thực tiễn về

1

2

sự – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2003 của Trường Đại học Luật Hà Nội do ThS. Bùi Kiên Điện chủ nhiệm đề tài; “Thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đỗ Văn Đương, Luận án tiến sĩ năm 2000; Một số vấn đề về các loại nguồn chứng cứ trong BLTTHS Việt Nam năm 2003, Trịnh Tiến Việt và Trần Thị Quỳnh, tạp chí kiểm sát số 12/2005; Nguồn chứng cứ: Lời khai của bị can, bị cáo, Vũ Xuân Thu, tạp chí kiểm sát số 10/2001… Như vậy, có thể nói ít có các công trình nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về nguồn chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam với hình thức là một đề tài độc lập, chuyên sâu. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu về nguồn chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam là một vấn đề cần thiết. 3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn – Mục đích: Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Phân tích, đánh giá những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về nguồn chứng cứ. Qua đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của các quy định về nguồn chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự, góp phần nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án hình sự. – Nhiệm vụ: Để đạt được những mục đích trên, trong quá trình nghiên cứu luận văn cần giải quyết những vấn đề sau: 1- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về nguồn chứng cứ (làm rõ khái niệm nguồn chứng cứ, phân biệt khái niệm “nguồn chứng cứ” với một số khái niệm khác như: Khái niệm chứng cứ, khái niệm phương tiện chứng minh…). Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về nguồn chứng cứ, có sự so sánh với pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới; 3

4

5

6

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUỒN CHỨNG CỨ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1. Lý luận chung về nguồn chứng cứ 1.1.1. Nhận thức về nguồn chứng cứ Để nhận thức được về các sự vật, hiện tượng nói chung và nhận thức về nguồn chứng cứ nói riêng, con người phải dựa vào cơ sở phương pháp luận nhất định. Trong lịch sử nhân loại đã từng có các quan điểm khác nhau về nguồn chứng cứ trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, đã từng tồn tại các quan điểm phi mác xít về vấn đề này như các quan điểm thần học, tôn giáo, quan điểm hình thức, quan điểm nhân chủng học, quan điểm niềm tin nội tâm của Thẩm phán… Lịch sử đã chứng minh để nhận thức được chính xác các sự vật, hiện tượng, con người cần dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, dựa trên phương pháp biện chứng khoa học, việc nhận thức về nguồn chứng cứ trong các vụ án hình sự cũng không nằm ngoài quy luật đó. Lý luận của chủ nghĩa DVBC về nhận thức thế giới được sử dụng như là cơ sở khoa học của nguồn chứng cứ và việc chứng minh thông qua những quan điểm cơ bản sau: Thứ nhất, vụ án hình sự được phản ánh bởi con người và các vật. Chủ nghĩa DVBC đã chỉ ra rằng phản ánh là thuộc tính của vật chất. Mọi sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan luôn tồn tại trong mối quan hệ qua lại và chịu sự tác động lẫn nhau. Bằng sự tác động qua lại đó, sự tồn tại của sự vật, hiện tượng này luôn để lại dấu vết ở sự vật, hiện tượng khác. Theo BLHS Việt Nam thì “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, được quy định trong Bộ luật hình sự và phải chịu hình phạt” [23, tr.50]. Theo khái niệm trên, “tội phạm trước hết là hành vi của con người, những gì

7

mới chỉ trong tư tưởng, chưa thể hiện ra bằng hành vi thì không phải là tội phạm, hành vi phạm tội là hành vi đã thực tế xảy ra trong thế giới khách quan và là một hiện tượng thuộc thế giới khách quan” [23, tr.50]. Chính vì sự tồn tại khách quan mà tội phạm cũng để lại các dấu vết nhất định. Bằng cách thu thập các dấu vết để lại và thông qua chúng, con người có thể xác định được sự thật khách quan của vụ án. Căn cứ vào các đặc điểm hình thành và tồn tại của từng loại dấu vết mà các nhà làm luật quy định trình tự, thủ tục thu thập, bảo quản, kiểm tra, đánh giá chứng cứ khác nhau để đảm bảo cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Thủ tục thu thập kiểm tra nguồn chứng cứ vật chất sẽ khác so với thủ tục kiểm tra nguồn chứng cứ phi vật chất. Thứ hai, con người có khả năng nhận thức được sự thật khách quan của vụ án hình sự. Chủ nghĩa DVBC khẳng định rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan. Trong sự tồn tại bất tận của thế giới khách quan, nhận thức của con người là tương đối nhưng cùng với sự phát triển của tự nhiên và xã hội, cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật cũng như sự phụ thuộc vào nhiệm vụ nhận thức cụ thể, nhận thức của con người về thế giới khách quan ngày càng tiến dần đến tuyệt đối. Trong TTHS, phải nói rằng tội phạm là một hiện tượng xã hội có muôn hình, muôn vẻ. Tuy nhiên, các yếu tố có ý nghĩa pháp lý hình sự của một tội phạm lại được xác định rất cụ thể. Căn cứ vào ý nghĩa pháp lý hình sự của tội phạm mà người làm luật quy định đối tượng chứng minh, giới hạn các vấn đề chứng minh ở một phạm vi nhất định. Đó là “sự việc phạm tội, người thực hiện tội phạm, lỗi, động cơ, mục đích phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các đặc điểm về nhân thân người phạm tội cũng như các thiệt hại do tội phạm gây ra” [12, tr.43]. Như vậy, nhiệm vụ chứng minh trong TTHS là rất cụ thể và được giới hạn trong phạm vi nhất định. Nhìn từ góc độ nhiệm vụ tố tụng đặt ra, có thể nói việc chứng minh trong TTHS có thể đạt

8

được sự thật khách quan tuyệt đối. Nói cách khác, với quan điểm này thì bất kỳ tội phạm nào xảy ra, con người đều có thể phát hiện và chứng minh được. Thứ ba, học thuyết về nhận thức của CNDVBC là cơ sở phương pháp luận đặc biệt quan trọng trong lý luận về nguồn chứng cứ trong luật TTHS nước ta. Tinh thần cơ bản của học thuyết Mác – Lê nin về nhận thức là “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [26, tr.179]. Từ nhận thức cảm tính (trực quan sinh động), con người thu nhận các thông tin về tội phạm, từ đó có sự kiểm tra, đánh giá thông qua tư duy của mình, từ đó có kết luận về các tình tiết nói riêng và về tội phạm nói chung. Học thuyết về nhận thức của CNDVBC là học thuyết về sự phản ánh của thế giới khách quan trong ý thức con người; cách giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là vật chất có trước và sau mới là ý thức. Ý thức của con người có khả năng phản ánh chính xác, khách quan hiện thực khách quan, là xuất phát điểm cực kỳ quan trọng cho lý luận về nguồn chứng cứ, cho lập pháp TTHS về nguồn chứng cứ và áp dụng các quy định của pháp luật về nguồn chứng cứ trong thực tiễn. Thực tiễn là thước đo của nhận thức. Mặc dù chứng minh trong TTHS có những nét đặc trưng riêng, là nhận thức về một sự kiện đã xảy ra trong quá khứ với phạm vi và giới hạn xác định. Tuy nhiên, quan điểm này của học thuyết DVBC về nhận thức không phải là ngoại lệ của quá trình chứng minh. Do quá trình chứng minh trong TTHS có những đặc trưng riêng nên việc dùng thực tiễn làm thước đo trong nhận thức về tội phạm cũng mang những nét đặc trưng riêng. Điều này thể hiện trong biện pháp thu thập chứng cứ như các biện pháp khám nghiệm, giám định, thực nghiệm điều tra… để tái tạo lại thực tiễn tội phạm, làm cơ sở kiểm tra, đánh giá các chứng cứ khác và kiểm tra lại nhận thức chung về tội phạm. Thông qua các nguồn chứng cứ

9

khác nhau, con người có sự đối chiếu, so sánh các chứng cứ để tìm ra chân lý của sự việc. Thứ tư, phương pháp biện chứng đặt nền móng cho việc áp dụng các quy luật của phép biện chứng duy vật vào quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ. Các nội dung quan trọng của phép biện chứng trong nhận thức như nguyên tắc toàn diện, đầy đủ, cụ thể, hệ thống… đóng vai trò quan trọng trong quá trình chứng minh. Phương pháp biện chứng của triết học Mác – Lê nin được thể hiện tương đối đầy đủ tại khoản 2 Điều 66 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: “Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán và hội thẩm xác định và đánh giá mọi chứng cứ với đầy đủ tinh thần trách nhiệm, sau khi nghiên cứu một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả các tình tiết của vụ án” [12, tr.45]. CNDVBC chỉ ra rằng khi xem xét thế giới khách quan, cần đặt trong sự vận động, biến đổi không ngừng. Lê nin đã từng nói: thế giới tồn tại trong vận động. Luận điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chứng cứ, không thể tách rời từng chứng cứ khi chứng minh tội phạm mà phải xem xét đánh giá tổng hợp các chứng cứ thu được từ các nguồn chứng cứ khác nhau và đặt trong thực tế diễn biến vụ án. 1.1.2. Khái niệm nguồn chứng cứ, vai trò của nguồn chứng cứ trong việc chứng minh tội phạm 1.1.2.1. Khái niệm nguồn chứng cứ Nguồn chứng cứ trong TTHS là một trong những vấn đề được các nhà lập pháp trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đề cập từ khá sớm, trong lịch sử đã có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Trong khoa học pháp lý, các nhà nghiên cứu luôn cố gắng để đưa ra một khái niệm về nguồn chứng cứ hoàn chỉnh nhất, tuy nhiên do nhiều cách tiếp cận khác nhau nên các quan niệm của họ luôn có sự mâu thuẫn nhất định. Sở dĩ có sự khác nhau đó là do xuất phát từ những thế giới quan khác nhau, do trình độ phát triển không đều về kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật.. 10

11

Theo quan niệm này thì nguồn chứng cứ được hiểu theo hai khía cạnh: thứ nhất, nguồn là hình thức biểu hiện của chứng cứ, cho phép ta nhận thức được một cách cụ thể rõ ràng về chứng cứ; thứ hai, nguồn là nơi chứa đựng chứng cứ mà từ đó có thể rút ra được chứng cứ. Quan niệm này có nét gần gũi với quan niệm cho rằng nguồn chứng cứ là cái rút ra được chứng cứ: “…nguồn chứng cứ với nghĩa là nơi là cơ quan tiến hành tố tụng hình sự tìm ra được những tình tiết có giá trị chứng minh về tội phạm” [9, tr.5]. Trong khi đó, Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng: “Trong khoa học luật tố tụng hình sự, nguồn chứng cứ thường được gọi bằng thuật ngữ khác là phương tiện chứng minh” [24, tr.168]. Có thể thấy rằng, việc sử dụng cụm từ “phương tiện chứng minh” thay thế cho cụm từ “nguồn chứng cứ” như vậy là thiếu chính xác, bởi lẽ khái niệm nguồn chứng cứ không đồng nhất với khái niệm phương tiện chứng minh. Nếu như nguồn chứng cứ được hiểu là nơi mà từ đó các CQTHTT cũng như người THTT có thể tìm ra chứng cứ trong vụ án hình sự, thì phương tiện chứng minh được hiểu là chứng cứ được chủ thể sử dụng để chứng minh. Như vậy, chứng cứ mới được coi là phương tiện chứng minh, còn nguồn chứng cứ không thể là phương tiện chứng minh, mà chỉ là nơi mà từ đó có thể tìm ra đối tượng được chủ thể sử dụng để chứng minh. Theo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, chỉ thông qua hiểu rõ bản chất của một sự vật, hiện tượng ta mới có thể nhận diện chính xác sự vật, hiện tượng đó là gì? Để làm rõ khái niệm cũng như thuật ngữ nguồn chứng cứ, ta cần phải hiểu rõ được bản chất của nguồn chứng cứ. Để làm rõ bản chất của nguồn chứng cứ, ta không thể không đề cập đến chứng cứ, bởi vì chứng cứ và nguồn chứng cứ có mối quan hệ qua lại với nhau, chứng cứ và nguồn chứng cứ là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, không thể đồng nhất hai khái niệm chứng cứ và nguồn chứng cứ như một số học giả quan niệm được. Có thể

12

Đề Tài Hoàn Thiện Chính Sách Quản Lý Ngoại Hối Ở Việt Nam Trong Tiến Trình Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế / 2023

, DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Các bạn sinh viên vào tải mẫu chuyên đề tốt nghiệp chuyên ngành Tài chính ngân hàng Chuyên đề Hoàn thiện chính sách Quản lý Ngoại hối ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

1. LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chính sách QLNH là một bộ phận hợp thành của chính sách Tài chính- Tiền tệ quốc gia, là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, đặc biệt là với hoạt động kinh tế đối ngoại. Để tạo điều kiện phát triển hài hoà giữa kinh tế đối nội và kinh tế đối ngoại, hội nhập và phát triển bền vững, các quốc gia đều phải có chính sách Tài chính-Tiền tệ nói chung và chính sách QLNH nói riêng phù hợp với thực tiễn mỗi nước. Chính sách QLNH có vai trò rất quan trọng trong hoạt động hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ của NHTW, nhất là các nước đang trong quá trình chuyển đổi kinh tế và cam kết hội nhập KTQT một cách sâu rộng như Việt Nam. Chính sách QLNH có tác động và ảnh hưởng quan trọng đối với biến động của các thành tố trên TK vãng lai cũng như TK vốn như: Kim ngạch XNK, các luồng luân chuyển vốn (đầu tư cũng như vay nợ) quốc tế. Trong điều kiện hội nhập KTQT ngày càng sâu sắc hơn, việc tác động và điều chỉnh được những thành tố đó có ý nghĩa then chốt đối với việc ổn định và kích thích tăng trưởng kinh tế quốc gia. Nhận thức được tầm quan trọng của chính sách QLNH một cách có hệ thống nhằm đưa ra những giải pháp hoàn thiện phù hợp với tiến trình hội nhập KTQT của Việt Nam là hết sức cần thiết và cấp bách. Xuất phát từ đó, “Hoàn thiện chính sách Quản lý Ngoại hối ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” đã được em chọn làm đề tài của bản luận văn. 2. Mục đích nghiên cứu – Hệ thống hoá những nét tổng quát về ngoại hối và các hạn chế đối với GD ngoại hối theo tiêu chí chung của IMF cũng như cụ thể đối với các nước đang phát triển để rút ra kinh nghiệm. – Phân tích, đánh giá thực trạng chính sách QLNH ở Việt Nam qua từng giai đoạn cụ thể.

3. Chương 1: Tổng quan về chính sách quản lý ngoại hối 1.1 Một số vấn đề chung về ngoại hối và những hạn chế ngoại hối 1.1.1 Khái niệm ngoại hối Cùng với sự phát triển không ngừng của nền sản xuất hàng hoá, nhu cầu mở rộng giao lưu thương mại không chỉ dừng lại ở phạm vi một quốc gia mà ngày càng đòi hỏi mở rộng trên phạm vi toàn cầu. Để thúc đẩy hoạt động thương mại trên thế giới, các phương tiện thanh toán quốc tế ngày càng được hoàn thiện- bên cạnh phương tiện chi trả cổ điển như vàng- các phương tiện thanh toán hiện đại đã được rất nhiều quốc gia chấp nhận và đưa vào sử dụng. Các phương tiện thanh toán, dự trữ quốc tế này gọi chung là ngoại hối. Đối với Việt Nam, khái niệm ngoại hối được đề cập cụ thể trong Thông tư số 01/1999/TT-NHNN7 ngày 16/4/1999 của NHNN hướng dẫn Nghị định 63/1998/NĐ-CP ngày 17/8/1998 của Chính phủ về QLNH như sau: Ngoại hối bao gồm: – Các đồng tiền hợp pháp của nước ngoài hiện đang được lưu hành dưới các hình thức tiền giấy, tiền kim loại. – Công cụ thanh toán bằng tiền nước ngoài như: séc, hối phiếu, thẻ thanh toán và các công cụ thanh toán khác. – Các loại GTCG bằng tiền nước ngoài như trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại GTCG khác. – Quyền rút vốn, đặc biệt là đồng tiền do IMF phát hành dùng để dự trữ và thanh toán quốc tế cho các nước hội viên, được kí hiệu là SDR. – Đồng tiền chung Châu Âu là đồng tiền chung của các nước thuộc cộng đồng Châu Âu dùng để dự trữ và thanh toán giữa các nước thành viên đó. – Các đồng tiền chung khác dùng trong thanh toán quốc tế và khu vực. – Vàng tiêu chuẩn quốc tế.

12. công cụ TT và thông qua TT hối đoái. NHTW với tư cách là một thành viên TT điều tiết thông qua hành động mua và bán ngoại tệ trên TT ngoại hối. Khi cần huy động ngoại tệ để thực hiện quá trình cải tổ, phát triển nền kinh tế, NHTW sẽ sử dụng công cụ lãi suất, tỷ giá để thu hút ngoại tệ trong nền kinh tế. Đối với các tổ chức, cá nhân được chủ động sử dụng nguồn ngoại tệ của mình như các quyền sở hữu, cất trữ và gửi tại ngân hàng… Dù vậy, nếu bối cảnh nền kinh tế tiềm ẩn nguy cơ lạm phát thì việc sử dụng chính sách ngoại hối nới lỏng sẽ dẫn đến tình trạng đôla hoá nền kinh tế. d/ Chính sách tự do hoá ngoại hối Trong điều kiện nền kinh tế phát triển, tự do hoá thương mại và đầu tư quốc tế với việc dỡ bỏ các rào cản thương mại, chu chuyển hàng hoá và chu chuyển vốn được vận hành theo cơ chế TT thì điều đó đã làm nền tảng cho chính sách tự do QLNH. Nhà nước điều tiết TT thông qua các chính sách vĩ mô và các công cụ TT, giảm tới mức tối đa việc can thiệp trực tiếp mang tính hành chính, mệnh lệnh để TT vận hành theo tín hiệu cung cầu của TT. Giá cả hàng hoá và đặc biệt là tỷ giá được quyết định bởi yếu tố cung cầu trên TT. Tổ chức và cá nhân được chủ động trong việc cất trữ và sử dụng ngoại tệ của mình. Thông thường, chính sách QLNH được áp dụng với các nước có nền kinh tế phát triển theo xu hướng mở cửa và hội nhập, có TT Tài chính-Tiền tệ phát triển, có TTCK, TT ngoại hối phát triển ở mức độ cao và có nguồn ngoại tệ dự trữ dồi dào để sẵn sàng ứng phó khi có biến động trên TT. 1.2.3 Mục tiêu của chính sách QLNH Mục tiêu chung của chính sách QLNH được quyết định bởi mục tiêu phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định và nó phải phù hợp với mức độ phát triển của nền kinh tế. Mục tiêu chính sách QLNH tổng thể mà hầu hết các quốc gia đều phấn đấu là góp phần bảo đảm sự cân bằng giữa hoạt động kinh tế đối nội với hoạt động kinh tế đối ngoại. Muốn vậy, chính sách QLNH

13. cần đạt được những mục tiêu sau: duy trì tỷ lệ tăng trưởng cao và bền vững, giảm tỷ lệ thất nghiệp, duy trì ổn định tiền tệ và giá cả, ổn định cán cân thanh toán quốc tế. Đối với Việt Nam, để thực hiện mục tiêu xây dựng nền kinh tế TT theo định hướng XHCN trong xu thế hội nhập mở cửa, ngoài các mục tiêu chung trên, chính sách QLNH cần đảm bảo các yêu cầu sau: – Đưa nền kinh tế đạt được mức cân bằng đối ngoại góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế. – Đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế cho quốc gia. – Hạn chế luồng vốn đi ra, thu hút nguồn vốn từ bên ngoài tập trung phát triển kinh tế. – Bảo vệ chủ quyền về tiền tệ. – Tránh những tác động tiêu cực từ bên ngoài ảnh hưởng tới nền kinh tế. 1.2.4 Những nội dung cơ bản của chính sách QLNH của các nước đang phát triển a/ QLNH đối với các GD vãng lai Hoạt động QLNH đối với các GD vãng lai tập trung chủ yếu vào việc theo dõi luồng ngoại tệ đi vào (từ XK, viện trợ, kiều hối, lãi đầu tư…), kiểm soát luồng ngoại tệ đi ra (thanh toán NK hàng hoá, dịch vụ, trả lãi đầu tư, chuyển tiền một chiều…). – Thông thường, việc theo dõi luồng ngoại tệ đi vào được thực hiện qua yêu cầu bắt buộc người cư trú có nguồn thu vãng lai phải chuyển về nước và khai báo để các cơ quan chức năng nắm được lượng ngoại tệ đi vào. – Quy định về nghĩa vụ bán ngoại tệ từ các nguồn thu vãng lai (kết hối) cũng được xem là một bộ phận của hoạt động QLNH đối với các GD vãng lai được nhiều quốc gia sử dụng. Người cư trú bắt buộc phải bán một lượng nhất định (thường theo tỷ lệ %) trong số nguồn thu ngoại tệ từ các GD vãng lai của mình cho các NHTM. Đây là một biện pháp hành chính nhằm tăng cung ngoại tệ cho nền kinh tế.

14. – Kiểm soát luồng ngoại tệ đi ra chủ yếu tập trung vào các quy định về điều kiện được mua và chuyển ngoại tệ ra nước ngoài. Thông thường, các quốc gia áp dụng QLNH đều quy định những đối tượng mua bán được phép mua ngoại tệ và giới hạn tối đa lượng ngoại tệ được mua. Người cư trú thuộc đối tượng được phép mua ngoại tệ khi có nhu cầu ngoại tệ để thanh toán cho phía nước ngoài phải xuất trình những giấy tờ chứng minh nhu cầu được phép. Trong trường hợp tất cả các đối tượng đều được phép mua ngoại tệ phục vụ cho các GD vãng lai với số lượng không hạn chế thì đồng tiền của quốc gia đó được công nhận là có khả năng chuyển đổi hoàn toàn đối với cán cân vãng lai (hay còn gọi là tự do hoá cán cân vãng lai). Hầu hết các quốc gia là thành viên của IMF hiện nay đều đã và đang từng bước thực hiện tạo khả năng chuyển đổi hoàn toàn cho đồng bản tệ đối với cán cân vãng lai. b/ QLNH đối với các GD vốn QLNH đối với các GD vốn nhằm mục đích thu hút nguồn vốn từ nước ngoài và hạn chế luồng vốn đi ra. Nó được thể hiện ở quy định QLNH trong lĩnh vực đầu tư và vay trả nợ nước ngoài. – Hầu hết các nước đều khuyến khích nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào nền kinh tế, đặc biệt là nguồn VĐT trực tiếp FDI. Chủ trương khuyến khích FDI thể hiện bằng việc chỉ theo dõi nguồn VĐT vào thông qua các quy định về khai báo và đăng kí cam kết cho phép nhà đầu tư được chuyển lợi nhuận về nước trong quá trình hoạt động và chuyển vốn về nước khi hết thời hạn đầu tư. Còn nguồn VĐT gián tiếp có thể bị hạn chế hơn do tính chất bất ổn và sự nhạy cảm của nó đối với các chuyển biến chính trị xã hội và kinh tế của nước nhận đầu tư. Việc kiểm soát luồng VĐT ra nước ngoài được thể hiện thông qua các quy định chặt chẽ về đối tượng, thủ tục, địa bàn đầu tư và giới hạn mức VĐT ra nước ngoài. Các đối tượng muốn đầu tư ra nước ngoài phải được các cơ quan chức năng cấp phép trên cơ sở từng trường hợp. – Trong hoạt động vay nợ nước ngoài, cơ chế QLNH thường quy định chặt chẽ hơn đối với các khoản vay trung dài hạn so với các khoản vay ngắn hạn.

15. Người cư trú vay vốn ngắn hạn nước ngoài thường chỉ cần đăng kí để cơ quan có thẩm quyền có thể theo dõi và làm cơ sở cho việc mua ngoại tệ để trả nợ gốc và lãi. Còn với các khoản vay trung dài hạn, người đi vay có thể phải xin phép các cơ quan có thẩm quyền. c/ Kiểm soát việc sử dụng ngoại tệ trong nước Thông thường, các quốc gia áp dụng quy chế QLNH chặt chẽ là những quốc gia có đồng tiền không ổn định. Tại những nước này, người dân có xu hướng sử dụng ngoại tệ để thay thế các chức năng thanh toán. Điều này ảnh hưởng đến chủ quyền tiền tệ của quốc gia. Vì vậy, một trong những nội dung quan trọng của chính sách QLNH là kiểm soát được việc sử dụng ngoại tệ trong nước. Các quốc gia thường cho phép người cư trú được cất trữ ngoại tệ, hay nói cách khác là cho phép sử dụng ngoại tệ làm phương tiện cất trữ giá trị nhưng nghiêm cấm việc sử dụng ngoại tệ trong thanh toán và định giá. Ngoài ra, Chính phủ các nước còn kiểm soát hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM nhằm mục đích tạo dòng luân chuyển ngoại tệ trong nền kinh tế, chống găm giữ ngoại tệ, phòng tránh rủi ro góp phần thực hiện chính sách tỷ giá đã định. NHTW sẽ kiểm soát hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM bằng việc xem xét cấp giấy phép kinh doanh ngoại tệ cho các NHTM, ban hành các quy chế GD hối đoái, tổ chức và điều hành TTNTLNH, ban hành các quy định về trạng thái ngoại tệ… Bên cạnh đó, các quốc gia này còn theo dõi và kiểm soát việc mở TK ở nước ngoài của người cư trú bằng cách giới hạn mục đích sử dụng trong các trường hợp đòi hỏi thanh toán thường xuyên cho phía nước ngoài như ngành hàng không, hàng hải, XK lao động. Các đối tượng được mở TK ở nước ngoài phải báo cáo tình hình sử dụng TK cho các cơ quan chức năng theo định kỳ. 1.3 Chính sách QLNH của một số nước trong khu vực và trên thế giới 1.3.1 Chính sách QLNH của Trung Quốc(TQ)

17. tế vĩ mô. Các văn bản về QLNH trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài được thực hiện theo nguyên tắc bình đẳng giữa các DN FDI và DN trong nước trong việc mua ngoại tệ, vay trả nợ nước ngoài. Các DN FDI được phép chuyển lợi nhuận về nước tự do sau khi chứng minh tính hợp pháp của khoản thu nhập mà không phải nộp thuế. VĐT sau khi hết hạn đầu tư được tự do chuyển về nước. Trước tháng 7/2002, việc chuyển đổi sang ngoại tệ phải được sự chấp thuận của Tổng cục QLNH, nhưng hiện nay chỉ cần xuất trình chứng từ với NHTM để chứng minh là có nhu cầu mua số ngoại tệ đó. * Đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài Khi đầu tư ra nước ngoài, DN phải xin phép UBKHNN. Hiện nay, TQ vẫn còn hạn chế việc đầu tư ra nước ngoài, chỉ cho đầu tư vào một số khu vực nhất định như hoạt động thương mại phục vụ hoạt động XK, khai thác tài nguyên thiên nhiên ở nước ngoài. * Đối với hoạt động vay trả nợ nước ngoài TQ chỉ cho phép các NHTM được phép kinh doanh ngoại tệ và một số DN Nhà nước lớn đủ năng lực tài chính mới được trực tiếp vay nước ngoài. Các DN khác khi có nhu cầu vốn ngoại tệ phải vay qua các TCTD. Trước khi kí hợp đồng vay nợ nước ngoài phải được Tổng cục QLNH phê chuẩn. Riêng các DN FDI được phép kí hợp đồng vay vốn nước ngoài sau khi đăng ký với Tổng cục QLNH. Các hợp đồng vay vốn nước ngoài trung dài hạn được quản lý chặt chẽ. Các TCTD phải thực hiện nghiêm túc quy định về trạng thái ngoại hối, kinh doanh có lãi liên tục trong 3 năm, kinh doanh XNK hoặc các ngành ưu tiên phát triển, có chế độ hạch toán, kế toán chặt chẽ. Các khoản vay nước ngoài phải nằm trong kế hoạch vay vốn nước ngoài của Nhà nước. Các DN vay vốn nước ngoài phải hạn chế chi phí vay vốn (lãi suất và phí), tổng chi phí không được cao hơn chi phí của các khoản vay cùng thời hạn trên TT quốc tế. Các DN không làm thủ tục đăng ký khoản vay sẽ không được mở và sử dụng TK vốn chuyên dùng, gốc và lãi không được chuyển ra nước ngoài. Các DN phải báo cáo theo định kỳ và nếu vi phạm sẽ bị xử phạt rất nặng (100.000-500.000 CNY).

18. c/ Về chính sách kiểm soát việc sử dụng ngoại tệ trong nước Để chuyển đổi đồng CNY thành đồng ngoại tệ tự do chuyển đổi, TQ hạn chế các GD trong nước sử dụng bằng ngoại tệ. Gần đây, số dư ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng giảm đáng kể vì trong nước nghiêm cấm thanh toán bằng ngoại tệ. Ngoài ra, do việc điều hành lãi suất và tỷ giá hợp lý của Ngân hàng Nhân dân (NHND) TQ, duy trì lãi suất CNY luôn cao hơn lãi suất ngoại tệ và tỷ giá giữa CNY và USD được duy trì ổn định nên các DN có xu hướng chuyển đổi ngoại tệ sang nội tệ, góp phần giảm tình trạng đôla hoá. d/ Về chính sách tỷ giá hối đoái và hoạt động ngoại hối Từ năm 1994 TQ có nhiều chuyển biến lớn trong điều hành chính sách tỷ giá như đưa tỷ giá chính thức lên mức cân bằng với tỷ giá TT để thống nhất hai tỷ giá và thực hiện chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý, tạo điều kiện cho việc chuyển đổi đồng CNY. Xoá bỏ chế độ DN được giữ ngoại tệ trên TK mà phải kết hối ngoại tệ. Khi có nhu cầu thanh toán hàng NK thì được mua ngoại tệ tại các ngân hàng được phép nhưng với các GD phi thương mại thì không được phép mua tại ngân hàng. Bên cạnh đó thành lập TTNTLNH với một số chi nhánh ở các tỉnh lớn và được kết nối bằng mạng vi tính. Các ngân hàng thực hiện GD giao ngay trên TT này (hiện nay, TQ chưa thực hiện các GD hoán đổi, kỳ hạn, quyền lựa chọn). Từ năm 1994 đến nay TQ vẫn áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý của Nhà nước. Tỷ giá giữa CNY và USD ổn định do TQ can thiệp vào TT ngoại hối thông qua việc phát hành đồng nội tệ để mua lại số ngoại tệ dư thừa hay bán số ngoại tệ còn thiếu để cân bằng cung cầu trên TT. Như vậy, quá trình chuyển đổi chế độ tỷ giá của TQ gắn liền với công cuộc cải cách nền kinh tế và có xu hướng ngày càng gia tăng yếu tố TT. Từ năm 1994, NHND TQ chủ yếu sử dụng biện pháp kinh tế thông qua việc mua bán ngoại tệ trên TT để điều chỉnh tỷ giá ở mức độ phù hợp. e/ Về quản lý DTNH

20. đối với cá nhân. Được gửi ngoại tệ tiền mặt vào TK nhưng không vượt quá 2 000 USD/ngày; không được rút ngoại tệ tiền mặt (trừ trường hợp được phép mang đi nước ngoài). Còn đối với người không cư trú, không có hạn chế đặc biệt đối với TK ngoại tệ. TK đồng Baht của người không cư trú được phép thu từ bán ngoại tệ có nguồn gốc từ nước ngoài hoặc trên TK ngoại tệ. Số dư trên TK đồng Baht được phép tự do chuyển đổi ra ngoại tệ và chuyển ra nước ngoài. Số dư trên chỉ được phép duy trì đến mức 50 triệu Baht. * Việc quản lý vay, trả nợ nước ngoài Các công ty đi vay trực tiếp nước ngoài rất ít mà chủ yếu thông qua các NHTM (đặc biệt là các chi nhánh ngân hàng nước ngoài). Nguồn cho vay ngoại tệ này phải từ nước ngoài chuyển vào; được hạch toán thành quỹ riêng (các NHTM phải xin phép NHTW để thực hiện). Do đó, các công ty vay NHTM từ nguồn ngoại tệ này được coi là vay nước ngoài. Hạn chế cho vay nước ngoài, một công ty chỉ cho vay nước ngoài (đối với công ty trực thuộc hoặc liên doanh với nước ngoài không quá 25% vốn) tối đa 10 triệu USD/năm; không cho vay để đầu tư mua bất động sản và CK ở nước ngoài. Ngân hàng, TCTC được mua, bán tài sản Tài chính nước ngoài nhưng không vượt quá 15% vốn tự có ròng. Hiện nay, thông qua hệ thống TK (kể cả TK lưu ký CK) và hệ thống báo cáo, các cơ quan quản lý nắm được doanh số GD CK hàng ngày của các nhà đầu tư, trong đó phân biệt nhà đầu tư nước ngoài và trong nước; vốn nước ngoài chuyển vào đầu tư CK không hạn chế nhưng phải chuyển đổi ngoại tệ ra Baht nếu giữ ngoại tệ trên TK quá 3 tháng. Hạn chế việc người cư trú vay Baht để đầu tư CK hoặc thế chấp CK để vay bản tệ. Không áp dụng hạn chế về thời hạn chuyển ra mà áp dụng mức thuế thống nhất. Nhà đầu tư được tự do chuyển đổi ngoại tệ và chuyển ra nước ngoài nhưng phải xuất trình các chứng từ cho NHTM để báo cáo NHTW. Tóm lại, TL đang thực hiện chính sách khuyến khích VĐT từ nước ngoài chuyển vào (đặc biệt là các luồng vốn ổn định, dài hạn) và hạn chế tối đa chuyển

22. sự quan hệ chặt chẽ giữa chính sách QLNH và các chính sách kinh tế khác như chính sách về thương mại, đầu tư, lãi suất, thuế… Chính sách QLNH của từng quốc gia phụ thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế nói chung và của TT Tài chính-Tiền tệ nói riêng. Cụ thể ở Trung Quốc và Thái Lan là những nước đang phát triển với TT Tài chính-Tiền tệ chưa ổn định và hoạt động chưa có hiệu quả thì chính sách QLNH còn phải kiểm soát các GD chuyển ngoại tệ vào và ra khỏi đất nước nhằm đảm bảo cân bằng cung cầu ngoại tệ, ổn định TT Tiền tệ và không làm suy giảm DTNH quốc gia. Còn Mĩ là một nước kinh tế phát triển, tự do hoá thương mại, đầu tư và có TT Tài chính-Tiền tệ phát triển năng động và hiệu quả nên việc kiểm soát luồng chu chuyển ngoại tệ là không cần thiết và chủ yếu để TT tự điều tiết theo quy luật cung cầu. Chính phủ chỉ sử dụng các chính sách vĩ mô và các công cụ TT để định hướng TT hoạt động có hiệu quả. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, hầu hết các nước đang phát triển có xu hướng ngày càng nới lỏng chính sách QLNH. Tuy nhiên, mỗi quốc gia tuỳ thuộc bối cảnh nền kinh tế mà có những bước đi thích hợp để từng bước tự do hoá ngoại hối cho phù hợp. Nhìn chung cần có sự thận trọng trong quá trình dỡ bỏ các hạn chế ngoại hối nhằm ổn định tiền tệ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

26. dầu khí, dịch vụ, du lịch… Song nhìn chung những năm đầu, nguồn vốn FDI còn khiêm tốn. Nguyên nhân là do phương thức quản lý nặng tính quan liêu cửa quyền và nhiều thủ tục giấy tờ, qua nhiều cửa làm mất nhiều công sức và thời gian của nhà đầu tư. Thêm và đó là sự e ngại của các nhà đầu tư nước ngoài về mức độ mức độ mở cửa của Việt Nam. 2.2 Chính sách QLNH thời kỳ 1988-1998 Để thích ứng với tình hình mới khi nền kinh tế đang chuyển đổi khá nhanh sang cơ chế TT, các hoạt động đối ngoại dường như “bùng nổ” với sự tham gia của nhiều TPKT trong hoạt động ngoại thương, ngày 18/10/1988 Chủ tịch HĐBT đã kí Nghị định số 161/HĐBT ban hành Điều lệ QLNH của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam. Nghị định 161 là văn bản nền tảng trong chính sách QLNH và tỷ giá của Việt Nam trong giai đoạn 1988-1998. Nội dung của Nghị định này đã phác hoạ những nét cơ bản trong cơ chế QLNH của Việt Nam thời kỳ quá độ từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế TT. Với các quy định về quản lý luồng ngoại tệ chuyển vào và ra khỏi Việt Nam; vấn đề mua bán ngoại tệ và quyền của chủ TK cũng như quyền sử dụng ngoại tệ của cá nhân; vấn đề quản lý kim loại quý, đá quý cũng như nguyên tắc của việc áp dụng tỷ giá trong hoạt động mua bán ngoại tệ… Điều lệ QLNH đã thực sự là văn bản pháp lý có tính chất định hướng cho hoạt động ngoại hối trong những năm cuối thập kỷ 80 và những năm thập kỷ 90 với nguyên tắc từng bước nới lỏng QLNH tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế góp phần tăng trưởng kinh tế. Để triển khai thực hiện Điều lệ QLNH, ngày 15/3/1989 NHNN ban hành Thông tư số 33/NH-TT và sau đó là một loạt các văn bản pháp lý bổ sung, chỉnh sửa và tăng cường QLNH nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu ngày càng đa dạng, phức tạp của hoạt động ngoại hối trong công cuộc đổi mới của nền kinh tế. 2.2.1 Những nội dung chính của chính sách QLNH giai đoạn 1988-1998 * Đối tượng và phạm vi QLNH

28. – Quy định nghĩa vụ phải bán ngoại tệ thu được từ XK cho Nhà nước (kết hối). Đây là nội dung được nhấn mạnh trong tất cả các văn bản, bổ sung, tăng cường về QLNH trong thời kỳ này. Tuy nhiên, các quy định về kết hối luôn thay đổi và phù hợp hơn với thực tế. Cụ thể: Thời kỳ năm 1988-1989 quy định tỷ lệ % kết hối và số ngoại tệ còn lại được gửi tại ngân hàng. Ngày 25/10/1991, HĐBT đã ban hành Quyết định 337-HĐBT về một số biện pháp QLNH trong thời gian trước mắt và NHNN ban hành Thông tư hướng dẫn số 203/NH-TT ngày 31/10/1991 nhằm thu hút nguồn ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng và điều hoà nguồn ngoại tệ; trong đó quy định biện pháp cân đối ngoại tệ để khuyến khích các tổ chức bán ngoại tệ cho ngân hàng. Nội dung của biện pháp cân đối ngoại tệ, đó là: NHNN quy định nguyên tắc về quyền được mua số lượng ngoại tệ tối thiểu bằng số ngoại tệ tổ chức đã bán cho ngân hàng. Quy định về trách nhiệm phải bán số ngoại tệ thu được từ XK dịch vụ tối thiểu bằng mức ngoại tệ tổ chức đã mua của ngân hàng để làm dịch vụ XK. Nhằm tiếp tục giải quyết tình trạng khan hiếm ngoại tệ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 396/TTg ngày 4/8/1994 về việc bổ sung, sửa đổi một số điểm về QLNH và NHNN ban hành Thông tư hướng dẫn số 12/TT-NH7; nội dung chủ yếu về việc bắt buộc phải bán số ngoại tệ các đơn vị chưa dùng đến cho ngân hàng và các TCTD trên địa bàn trên cơ sở tính toán nhu cầu ngoại tệ trong quý tới của TCKT. * Việc mua ngoại tệ phục vụ NK hàng hoá, dịch vụ Các tổ chức có ngoại tệ trên TK được phép sử dụng để thanh toán hàng hoá NK. Trong trường hợp có nhu cầu mua ngoại tệ để thanh toán NK, TCKT phải được Thủ trưởng Bộ, ngành, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố xác nhận thì NHNT hoặc ngân hàng được uỷ quyền mới xem xét bán số ngoại tệ cần thiết phục vụ cho việc NK trên cơ sở các chứng từ phù hợp. * Tình hình hoạt động chi trả kiều hối Năm 1988, chính sách kiều hối được cởi mở thông thoáng hơn trước cho phép nhận tất cả các loại ngoại tệ và được phép gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ. Người thụ

29. hưởng chưa được rút tiền bằng ngoại tệ nhưng được nhận phiếu bằng ngoại tệ để mua hàng tại các nơi được phép thu ngoại tệ, xoá bỏ quy định hạn mức rút tiền từng lần. Từ năm 1990, người nhập cảnh được mang ngoại tệ vào không hạn chế sau khi khai báo hải quan. Ngoài ra, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác chi trả kiều hối, NHNN quy định rõ việc huy động và chi trả kiều hối cho các ngân hàng được uỷ quyền đảm nhận. Tổ chức trong và ngoài nước có thể làm đại lý cho các ngân hàng được uỷ quyền. Nhờ đổi mới chính sách kiều hối, lượng kiều hối chuyển về giai đoạn 1990- 1997 tăng hơn giai đoạn trước, góp phần đáp ứng nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Đặc biệt, sau khi Việt Nam bình thường hoá quan hệ với Mĩ năm 1995, NHNN đã ban hành Quyết định số 48/QĐ-NHNN để khuyến khích kiều hối chuyển về nước. Theo Quyết định này, kiều hối chuyển về không hạn chế về khối lượng, số lần gửi và ngoại tệ gửi. Người thụ hưởng nhận bằng VND theo tỷ giá của ngân hàng (không nhận ngoại tệ bằng tiền mặt) và được phép gửi ngoại tệ tiết kiệm tại ngân hàng và rút ra bằng ngoại tệ, phải chịu thuế thu nhập không thường xuyên. Việc không cho phép nhận kiều hối bằng ngoại tệ tiền mặt hạn chế việc phát triển TT tự do và mức độ đôla hoá trong thời kỳ này. Trên thực tế, người thụ hưởng đã rút tiền trước hạn từ các TK tiền gửi ngoại tệ để bán trên TT tự do do tỷ giá chuyển đổi thấp hơn tỷ giá trên TT tự do. Bên cạnh đó, hoạt động chuyển tiền lậu vẫn xảy ra với quy mô lớn. * Việc mang, chuyển ngoại tệ vào Việt Nam và ra nước ngoài của công dân nước ngoài và công dân Việt Nam Thời kỳ này khuyến khích nguồn ngoại tệ từ nước ngoài chuyển vào Việt Nam, không hạn chế số lượng. Ngoại tệ mang từ nước ngoài vào có khai báo hải quan hoặc chuyển qua ngân hàng được sử dụng như quy định về việc sử dụng ngoại tệ của công dân Việt Nam. Công dân Việt Nam có nhu cầu mua ngoại tệ để phục vụ cho chuyến đi công tác, học tập, lao động ở nước ngoài phải được Thủ trưởng Bộ, ngành, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố xác nhận thì được NHNT hoặc ngân hàng được uỷ quyền xem xét số ngoại tệ cần thiết cho các mục đích trên.

30. b/ Quản lý đối với các GD vốn Để tạo hành lang pháp lý cho các DN chủ động trong việc vay vốn nước ngoài, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 58/NĐ-CP vào năm 1993, trong đó cho phép các DN được kí kết vay nợ nước ngoài theo phương thức tự vay tự trả. Tuy nhiên, các DN trước khi vay vốn nước ngoài phải xin phép NHNN. Văn bản chấp thuận khoản vay này là cơ sở pháp lý để các NHTM thực hiện việc rút vốn trả nợ nước ngoài cho các DN. Các DN có nguồn thu ngoại tệ từ nguồn vay vốn phải chuyển về nước vào TK ngoại tệ mở tại ngân hàng được phép và không phải kết hối. Sau khi có chấp thuận vay vốn nước ngoài, DN mới được kí hợp đồng và thực hiện rút vốn khoản vay và trả nợ khoản vay khi đến hạn. Trước năm 1999, các DN khi vay vốn nước ngoài phải đáp ứng điều kiện lãi suất khoản vay ngắn hạn nhỏ hơn 7.5% và lãi suất của khoản vay trung dài hạn không lớn hơn lãi suất LIBOR+2.5% và các DN chỉ được mở một TK ngoại tệ trong nước tại ngân hàng được phép để tiếp nhận vốn vay và trả nợ nước ngoài. Các trường hợp mở TK ở nước ngoài để tiếp nhận và chi trả vốn vay phải được NHNN cho phép trong trường hợp đặc biệt. Về các khoản vay vốn nước ngoài ngắn hạn, trước năm 1997 chưa được NHNN chú trọng. Do vậy, các DN nhập hàng trả chậm vào giai đoạn 1995-1996 với số lượng rất lớn khi lãi suất vay vốn trong nước cao hơn lãi suất vay vốn nước ngoài dưới hình thức mở L/C trả chậm. Số dư mở L/C tăng vọt, ở mức báo động (trên 1 tỷ USD). Với sự biến động tỷ giá và nhu cầu tiêu dùng trong nước giảm, nhiều DN lâm vào phá sản không có khả năng trả nợ. Do vậy, năm 1997 Thống đốc NHNN ban hành Quyết định số 207/QĐ-NH7 kèm theo Quy chế mở L/C trả chậm, trong đó đưa ra các quy định chặt chẽ về trách nhiệm của ngân hàng mở L/C và các DN khi thực hiện nghiệp vụ này. c/ Kiểm soát việc sử dụng ngoại tệ trong nước Trước năm 1991, người cư trú chưa được phép sở hữu, mở TK gửi tiết kiệm ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng.

32. Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đổi tiền, NHNN quy định các ngân hàng được uỷ quyền phải chủ động mở rộng mạng lưới các bàn thu đổi ngoại tệ, đặc biệt ở những nơi cần thiết như cửa khẩu, sân bay, hải cảng, khách sạn quốc tế,… cho phép ngân hàng được uỷ quyền có thể uỷ thác đơn vị làm nghiệp vụ thu đổi ngoại tệ. Quy định số lượng ngoại tệ phải bán cho ngân hàng được uỷ quyền tối thiểu 50%. Một số biện pháp QLNH trong Quyết định số 37/HĐBT ngày 25/10/1991 và Thông tư hướng dẫn số 203/NH-TT ngày 31/10/1991 đã nghiêm cấm tổ chức (trừ các ngân hàng và các TCTD được phép kinh doanh ngoại hối) không được thanh toán, mua bán cho vay hoặc chuyển nhượng trực tiếp cho nhau bằng ngoại tệ. Quy định này đã giúp cho ngân hàng kiểm soát tốt các GD ngoại tệ và điều hoà nguồn ngoại tệ cho các mục đích cần thiết trong tình hình khan hiếm ngoại tệ trên TT. Đây là điểm khác biệt cơ bản trong các quy định trước đây về việc mua bán ngoại tệ giữa các tổ chức và điều này giúp cho ngân hàng quản lý có hiệu quả các GD ngoại tệ trên TT. Nghiêm cấm việc cho vay, mua bán trực tiếp với nhau của các đơn vị kinh tế, trừ những trường hợp đặc biệt theo quy định được phép thanh toán với nhau bằng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam. Nêu rõ mục tiêu tiến tới trên lãnh thổ Việt Nam chỉ lưu hành VND và quy định một số tổ chức đặc thù được phép thu ngoại tệ trực tiếp của khách hàng như các cửa hàng miễn thuế, cửa hàng ở sân bay, hải cảng… Tăng cường quản lý giám sát việc mở TK ngoại tệ ở nước ngoài, NHNN quy định về chế độ báo cáo định kỳ từng quý tình hình thu chi ngoại tệ trên TK và giới hạn số dư theo hạn mức nhất định; đồng thời quy định một số đối tượng được phép mở TK ngoại tệ ở nước ngoài tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh. Những đối tượng ngoài quy định phải tất toán TK ở nước ngoài và chuyển ngoại tệ về nước. d/ Quản lý kim loại quý, đá quý * Về việc XNK vàng

34. ngoại tệ vào ngân hàng và thực tế vẫn tồn tại TT ngoại tệ tự do sôi động, gây khó khăn cho công tác QLNH. Mức độ biến động của tỷ giá không phù hợp với mức độ mất giá của VND (năm 1989 tỷ giá tăng khoảng trên 50% trong khi lạm phát tăng khoảng 34%). Để phù hợp với điều kiện TT ngày 13/9/1990 Chủ tịch HĐBT đã ban hành Chỉ thị số 330/CT về tăng cường QLNH và NHNN đã có Thông tư hướng dẫn số 222-NH/TT ngày 20/10/1990. Theo đó, tỷ giá kinh doanh của NHTM được thiết lập trên cơ sở tỷ giá chính thức do NHNN công bố và dao động trong biên dộ +/-5% và tỷ giá mua bán không được quá 0.5%. Đồng thời để có đủ năng lực tài chính trong tay giúp NHNN sẵn sàng can thiệp, ổn định TT, tháng 4/1991 Chính phủ đã thành lập Quỹ điều hoà ngoại tệ giao cho NHNN. Đặc biệt, để tăng cường kinh nghiệm quản lý, điều hành TT ngoại tệ, NHNN đã thành lập hai Trung tâm GD ngoại tệ tại Hà Nội (11/1991) và Thành phố Hồ Chí Minh (8/1991). Thông qua sự quản lý điều hành các Trung tâm GD ngoại tệ, NHNN đã bước đầu thực hiện chính sách tỷ giá thả nổi có sự điều tiết của Chính phủ. Tỷ giá đã phản ánh phần nào khách quan cung cầu trên TT tiền tệ bởi sự tham gia vào các Trung tâm GD ngoại tệ của các NHTM được phép kinh doanh ngoại tệ, các DN XNK trực tiếp và NHNN. Sự ra đời của hai Trung tâm GD ngoại tệ đánh dấu bước chuyển biến lớn trong cơ chế QLNH. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của các Trung tâm còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong giai đoạn mới khai trương, đồngViệt Nam liên tục mất giá và NHNN đã phải can thiệp bằng việc bán ngoại tệ để cân bằng TT đồng thời điều chỉnh tỷ giá chính thức. Tháng 1/1991 tỷ giá được điều chỉnh lên 7 000 VND/USD và tháng 9/1991 là 9 200 VND/USD, tháng 9/1998 lên tới 12 065 VND/USD. * Giai đoạn 1993-1998: Nhằm ổn định TT và nâng cao vai trò quản lý điều hành của NHNN trên TT ngoại hối, năm 1993 NHNN đã dùng tỷ giá trần và tỷ giá sàn để kiểm soát hoạt động của các Trung tâm GD ngoại tệ. NHNN quy định tỷ giá chính thức và cho phép các NHTM xác định tỷ giá kinh doanh trong biên độ nhất định. Đồng thời

35. ngày 20/9/1997 NHNN đã ban hành Quyết định số 203/QĐ-NH13 để chuyển Trung tâm GD ngoại tệ thành TTNTLNH. Thành viên TT bao gồm các NHTM được phép kinh doanh ngoại tệ và NHNN. NHNN khi cần thiết thì sử dụng ngoại tệ từ Quỹ điều hoà ngoại tệ thông qua TTNTLNH để can thiệp TT. Sự ra đời của TTNTLNH đã góp phần tích cực điều hoà cung cầu ngoại tệ và duy trì ổn định tỷ giá trong giai đoạn 1993-1995. Ngoài ra phải kể đến các nhân tố quan trọng khác như tốc độ tăng trưởng XK cao, lượng kiều hối chuyển về và VĐT trực tiếp vào Việt Nam ngày càng tăng góp phần đáng kể làm tăng nguồn cung ngoại tệ và làm cho cán cân thanh toán được cải thiện đáng kể. * TT ngoại hối rất nhạy cảm với các biến động về kinh tế trong khu vực và thế giới. Thời điểm giữa năm 1997, do tác động của cuộc khủng hoảng Tài chính Đông Nam á, XK vào các TT này giảm sút, dòng VĐT trực tiếp từ các nước bị khủng hoảng cũng bị ảnh hưởng và TT ngoại hối của Việt Nam rơi vào tình trạng mất cân đối về cung cầu ngoại tệ, đồng Việt Nam liên tục mất giá. Trước tình hình này, ngày 16/2/1998, NHNN buộc phải phá giá đồng Việt Nam từ 11 175 VND/USD lên 11 800 VND/USD (đồng Việt Nam giảm khoảng hơn 5%) và đồng thời tăng biên độ mua bán của các NHTM từ +/-5% lên +/-10%. Sau quyết định của NHNN, tỷ giá của các NHTM lập tức được điều chỉnh lên kịch trần (tăng 10% so với tỷ giá chính thức). Tuy nhiên, việc điều chỉnh này cũng không làm giảm áp lực về nhu cầu ngoại tệ trên TT. Ngày 7/8/1998, NHNN lại ban hành Quyết định số 265/1998/QĐ tiếp tục điều chỉnh tuỷ giá từ 11 815 VND/USD lên 12 998 VND/USD và giảm biên độ mua bán từ +/-10% xuống còn +/-7%; đồng thời NHNN chỉ công bố tỷ giá VND/USD, tỷ giá VND so với các ngoại tệ khác giao cho các TCTD được phép kinh doanh ngoại tệ ấn định dựa vào tỷ giá VND/USD và tỷ giá các ngoại tệ này so với USD trên TT quốc tế. Bên cạnh đó cho phép các TCTD tự quyết định mức chênh lệch tỷ giá mua bán. Các quyết định đồng bộ nêu trên đã phần nào khắc phục hậu quả của chế độ tỷ giá cố định. 2.2.3 Thành công của chính sách QLNH giai đoạn 1988-1998

36. a/ Tạo điều kiện cho các NHTM phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối và thanh toán quốc tế. Thời kỳ Nhà nước độc quyền về kinh doanh ngoại hối chỉ có NHNT tham gia công tác thanh toán đối ngoại. Từ khi ban hành Điều lệ QLNH cho đến cuối những năm thập kỷ 90 số lượng các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại hối và thanh toán quốc tế lên đến con số hàng chục. Điều đó giúp cho hệ thống ngân hàng phát triển đa dạng các nghiệp vụ trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh ngoại hối cũng như thanh toán quốc tế. Các ngân hàng có điều kiện tiếp cận với các nghiệp vụ thanh toán qua ngân hàng hiện đại, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ để cải tiến quy trình công nghệ ngân hàng, đáp ứng nhu cầu hội nhập mở cửa với các nước trong khu vực và thế giới. Để tạo điệu kiện cho các NHTM trong công tác thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại hối, NHNN còn quy định cụ thể các điều kiện thủ tục cho phép các ngân hàng mở TK ngoại tệ ở nước ngoài; đồng thời NHNN ngày càng tạo thế chủ động cho các ngân hàng trong hoạt động ngoại hối bằng cách quy định và giao trách nhiệm cho ngân hàng trong việc giải quyết các nhu cầu mua ngoại tệ trên cơ sở các chứng từ cần xuất trình. Các quy định về các GD trên TTNTLNH, về kiểm soát rủi ro bằng cách tuân thủ trạng thái ngoại tệ, quyền xác định tỷ giá mua bán trên cơ sở các quy định của NHNN trong từng thời kỳ cũng tạo cơ sơ pháp lý cho các ngân hàng chủ động hơn trong hoạt động của mình. b/ Tập trung nguồn ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng và thu hút nguồn ngoại tê nước ngoài góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Trong bối cảnh nền kinh tế trong thời kỳ đầu đổi mới, nhu cầu ngoại tệ đáp ứng cho NK máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, trong khi cung ngoại tệ còn hạn chế, để các ngân hàng có thể huy động nguồn ngoại tệ, NHNN đã chỉ đạo các ngân hàng mở rộng hoạt động của các bàn thu đổi ngoại tệ, tạo điều kiện cho các ngân hàng tham gia công tác huy động và chi trả kiều hối, mở rộng mạng lưới chi trả kiều hối bằng các quy định cho phép kí các hợp đồng đại lý

37. chi trả kiều hối với các TCKT. Trong những năm qua, lượng ngoại tệ thu đổi và chi trả kiều hối là nguồn ngoại tệ quan trọng góp phần tăng cung ngoại tệ cho hệ thống ngân hàng nói riêng và cho nền kinh tế nói chung. Ngoài ra, việc liên tục tăng cường chỉ đạo thực hiện triệt để kết hối nguồn thu ngoại tệ từ XK, khuyến khích các tổ chức có ngoại tệ chưa sử dụng đến bán cho ngân hàng và được quyền mua lại số ngoại tệ đã bán khi có nhu cầu chi ngoại tệ, cho đến việc quy định phải tính toán sát sao kế hoạch chi tiêu ngoại tệ trong quý và phần dư thừa phải bán cho ngân hàng,… đã giúp hệ thống ngân hàng điều hoà nguồn ngoại tệ trong nền kinh tế một cách có hiệu quả trong bối cảnh khan hiếm ngoại tệ và sự mất cân đối nghiêm trọng của cán cân thanh toán quốc tế và cũng đáp ứng cho các nhu cầu cấp thiết để NK hàng hoá thiết bị cho sản xuất. Bên cạnh các biện pháp tập trung nguồn ngoại tệ trong nước vào hệ thống ngân hàng thì các chính sách QLNH đối với vay nợ nước ngoài, chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần quan trọng trong việc huy động tối đa nguồn lực để tăng cường nguồn VĐT cho sản xuất phát triển kinh tế. Cùng với cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt trên cơ sở cung cầu TT có tác động khuyến khích XK, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. c/ Chính sách quản lý hoạt động kinh doanh vàng đã tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển TT vàng góp phần ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát. So với thời kỳ trước năm 1986 thì giai đoạn này với sự ra đời của Nghị định 63/CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng đã có sự mở rộng thông thoáng hơn rất nhiều; thể hiện ở sự công nhận quyền sở hữu hợp pháp về vàng của mọi tổ chức, cá nhân, các DN có đủ điều kiện theo quy định được NHNN cho phép hoạt động mua bán, gia công, chế tác XNK vàng. Điều đó đã thúc đẩy sự ra đời của hàng nghìn DN kinh doanh vàng trên khắp cả nước, tạo ra mạng lưới lưu thông vàng thông suốt, giá cả ổn định và phù hợp với giá thế giới, góp phần quan trọng trong việc ổn định giá cả TT trong bối cảnh tập quán người dân còn

38. ưa chuộng vàng làm công cụ cất trữ giá trị và phương tiện thanh toán các loại hàng hoá có giá trị cao như đất đai, nhà cửa, xe máy,… 2.2.4 Những hạn chế của chính sách QLNH giai đoạn 1988-1999 a/ Hệ thống văn bản về QLNH còn chưa đầy đủ, nhiều lĩnh vực quan trọng vẫn chưa được điều chỉnh, nhiều nội dung chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Từ cơ chế độc quyền quản lý và kinh doanh ngoại hối thì giai đoạn này với sự ra đời của Điều lệ QLNH đã tạo sự chuyển biến quan trọng trong việc thực hiện cơ chế QLNH nới lỏng như cho phép mở rộng đối tượng tham gia kinh doanh ngoại hối và vàng, mở rộng phạm vi hoạt động ngoại hối của các tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, nội dung Điều lệ QLNH còn sơ khai chưa phân định rõ đối tượng QLNH theo tiêu thức người cư trú và người không cư trú để có chính sách quản lý phù hợp. Nội dung Điều lệ QLNH còn thiếu các quy định rõ nét về cơ chế quản lý các GD vãng lai như chưa quy định nghĩa vụ bán ngoại tệ từ nguồn thu vãng lai, chưa quy định về quyền mua ngoại tệ phục vụ cho các GD vãng lai và thiếu các quy định về nguyên tắc quản lý các GD vốn. Hơn nữa, cơ chế QLNH còn chưa phù hợp với các tiêu thức chung theo thông lệ quốc tế là phân định rõ nguyên tắc quản lý các GD vãng lai, GD vốn. b/ Cơ chế QLNH mang tính bị động, nặng về xử lý tình huống phát sinh trên TT. Điều này xuất phát từ một loạt các văn bản bổ sung chỉnh sửa tăng cường QLNH ra đời do sự chưa đầy đủ về các nội dung trong Điều lệ QLNH. Cụ thể: về quy định mục đích sử dụng ngoại tệ trên TK thì đến năm 1994 mới quy định bổ sung, chỉnh sửa đầy đủ rõ ràng mục đích cũng như việc xuất trình các chứng từ để sử dụng ngoại tệ trên TK; hay quy định về việc giao quyền cho các NHTM xem xét các chứng từ phù hợp để bán ngoại tệ cho các đơn vị kinh tế đến các văn bản bổ sung mới quy định rõ… Với sự ra đời của nhiều văn bản QLNH bổ sung, chỉnh sửa dẫn đến tình trạng có quá nhiều văn bản quy định về cơ chế

40. phân tán trong nhiều văn bản, do đó khó khăn trong việc kiểm tra, giám sát và hiệu lực pháp lý chưa cao. 2.3 Chính sách QLNH từ năm 1998 đến nay Nghị định số 63/1998/NĐ-CP ngày17/8/1998 về QLNH ra đời đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện cơ chế QLNH phù hợp với tiêu chí chung theo thông lệ quốc tế. Về đối tượng quản lý được phân ra hai loại: Người cư trú và người không cư trú, tổ chức và cá nhân đồng thời áp dụng các kiểm soát phù hợp với đặc thù của từng đối tượng. 2.3.1 Nội dung chính của chính sách QLNH a/ Quản lý đối với các GD vãng lai * Chính sách kết hối đối với nguồn thu ngoại tệ từ XK nói riêng và nguồn thu vãng lai nói chung Tháng 9/1998, Chính phủ ban hành Quyết định 173/1998/QĐ/TTg ngày 12/9/1998 và NHNN ban hành Thông tư 08 hướng dẫn chế độ kết hối. Theo các văn bản này, người cư trú là TCKT, trừ DN FDI, không được Chính phủ cân đối ngoại tệ phải bán 80% & các tổ chức phi kinh tế phải bán 100% ngoại tệ từ nguồn thu vãng lai cho ngân hàng trong vòng 15 ngày. Các nguồn thu ngoại tệ không phải là nguồn thu vãng lai thì không phải bán. Đến cuối năm 1998, để tránh tình trạng các DN tìm cách lách biến nguồn thu vãng lai thành nguồn thu khác nhằm tránh chế độ kết hối, số ngày phải bán ngoại tệ kể từ khi có nguồn thu giảm xuống còn 3 ngày. Chính sách này đã làm giảm đáng kể việc găm giữ ngoại tệ của các tổ chức trên TK, làm giảm sức ép lên tỷ giá và cung cầu ngoại tệ trên TT đã bớt căng thẳng vào đầu năm 1999. Để thực hiện chủ trương hội nhập nền kinh tế thế giới, với xu hướng tự do hoá cán cân vãng lai, chính sách kết hối là công cụ hành chính bắt buộc chỉ nên áp dụng tạm thời đã có nhiều thay đổi từ năm 1999. Cụ thể, tỷ lệ kết hối giảm dần từ mức 80% đối với các TCKT năm 1998 xuống còn 50% năm 1999, 40% năm 2001, 30% năm 2002 và 0% năm 2003. Sự thay đổi trong chính sách kết hối năm 2001 còn thể hiện nguyên tắc bình đẳng giữa các DN. Quy định này áp

Quyền Của Các Dân Tộc Thiểu Số Trong Pháp Luật Quốc Tế Và Pháp Luật Việt Nam / 2023

Thứ sáu, 22 Tháng 7 2016 17:29

(LLCT) – Việt Nam, miền núi và các dân tộc thiểu số luôn là thành tố quan trọng trong chiến lược phát triển và bảo vệ đất nước. Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội mới đang đòi hỏi chúng ta nhận thức rõ và giải quyết các nhiệm vụ mới trên nhiều lĩnh vực: xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, nâng cao dân trí, xóa đói giảm nghèo… Tại những vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, việc thực hiện bình đẳng dân tộc, bảo đảm các quyền của các dân tộc thiểu số có ý nghĩa quan trọng trong việc đập tan các âm mưu “diễn biến hòa bình”, lợi dụng vấn đề dân tộc để gây rối loạn, ly khai của các thế lực thù địch. Vì vậy, việc nắm rõ về quyền của các dân tộc thiểu số trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam là điều cần thiết đối với mỗi đồng bào, mỗi cán bộ ở các vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.

Quyền của dân tộc thiểu số là một trong những quyền cơ bản của con người, được các văn kiện pháp lý quốc tế ghi nhận và xếp trong nhóm các quyền dân sự – chính trị. Dưới góc độ pháp lý, khái niệm “quyền dân tộc thiểu số” là quyền rất căn bản mà các nhóm dân tộc thiểu số ở tất cả các quốc gia đều có quyền được hưởng, đó là quyền bình đẳng không bị phân biệt đối xử, quyền giữ gìn bản sắc văn hóa, quyền được nhà nước hỗ trợ để phát triển về mọi mặt để thỏa mãn các nhu cầu trong cuộc sống của mình cũng như để bảo vệ và thực hiện các quyền năng khác đã được pháp luật ghi nhận.

1. Quyền của dân tộc thiểu số trong pháp luật quốc tế

Về khái niệm “dân tộc” và “người thiểu số” chưa được chính thức xác nhận trong bất cứ văn kiện quốc tế nào của Liên Hợp quốc. Các nhóm thiểu số hay được đề cập đến là thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ.

Tòa án Công lý quốc tế thường trực (PCIJ) đưa ra định nghĩa về dân tộc thiểu số: cộng đồng thiểu số là một nhóm người sống trên một quốc gia hoặc một địa phương nhất định, có những đặc điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngưỡng, ngôn ngữ và truyền thống, có sự giúp đỡ lẫn nhau và có quan điểm thống nhất trong việc bảo lưu những yếu tố truyền thống, duy trì tôn giáo, tín ngưỡng và hướng dẫn, giáo dục trẻ em trong cộng đồng theo tinh thần và truyền thống của chủng tộc họ.

Cũng có khái niệm rằng: người thiểu số là một nhóm người, xét về mặt số lượng, ít hơn so với phần dân cư còn lại của quốc gia, có vị thế yếu trong xã hội, những thành viên của nhóm – mà đang là công dân của một nước.

Một định nghĩa khác về người thiểu số, đó là một nhóm công dân của một quốc gia, ít về mặt số lượng và yếu về vị thế trong quốc gia đó, mang những đặc trưng về chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ mà tạo sự khác biệt so với nhóm dân cư đa số, có một ý thức thống nhất, một động cơ rõ rệt trong việc sử dụng ý chí tập thể để tồn tại và đạt được mục tiêu bình đẳng với nhóm dân cư đa số, cả trên phương diện pháp luật và thực tiễn.

Khái niệm “quyền dân tộc thiểu số” được chính thức ghi nhận trong hai Công ước quốc tế là Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người của Liên Hợp quốc (UDHR) năm 1948: “Mọi người sinh ra đều được hưởng tất cả các quyền và tự do không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội” (Điều 2) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966 ghi: “Tại những nước có nhiều nhóm dân tộc thiểu số, tôn giáo và ngôn ngữ cùng chung sống, thì những cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ và các thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không thể bị tước bỏ quyền được thụ hưởng nền văn hóa riêng, quyền được thể hiện và thực hành tôn giáo riêng hoặc quyền được sử dụng tiếng nói riêng của họ” (Điều 3). Đây là hai văn kiện pháp lý quốc tế nền tảng, ghi nhận các quyền pháp lý cơ bản của con người về dân sự, chính trị, mà quyền dân tộc thiểu số được coi là quyền cơ bản trong nhóm các quyền dân sự, chính trị đó.

Có thể thấy, bên cạnh việc ghi nhận quyền của các dân tộc thiểu số, luật pháp quốc tế còn quy định trách nhiệm của các quốc gia thành viên Công ước phải bảo đảm cho các cá nhân thuộc các nhóm dân tộc thiểu số quyền được hưởng nền văn hóa, ngôn ngữ trong các điều kiện đặc thù của mình. Trong Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ 1992 ghi: “Các quốc gia sẽ bảo vệ sự tồn tại và bản sắc dân tộc hay sắc tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của người thiểu số trong phạm vi lãnh thổ thuộc sự quản lý của họ, và khuyến khích những điều kiện để thúc đẩy bản sắc đó; các quốc gia sẽ thông qua những biện pháp lập pháp và những biện pháp thích hợp khác để đạt được những mục tiêu này” (Điều 1).

Ngoài ra, quyền của người dân tộc thiểu số còn được lồng ghép một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong nhiều điều của Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người và trong nhiều công ước quốc tế về quyền con người đã được các nước trên thế giới và Việt Nam công nhận như: Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1966; Công ước quốc tế về xóa bỏ hình thức phân biệt chủng tộc 1965…

Như vậy, quyền dân tộc thiểu số là một bộ phận quan trọng của pháp luật quốc tế về quyền con người. Việc thúc đẩy và thường xuyên thực hiện quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ như là một phần gắn liền trong sự phát triển xã hội nói chung và trong khuôn khổ dân chủ, pháp luật nói riêng, góp phần vào việc tăng cường tình hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc và các quốc gia.

2. Quyền của dân tộc thiểu số trong pháp luật Việt Nam

Giống như hầu hết quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam cũng có những nhóm thiểu số không chỉ là những nhóm dân tộc có số người ít hơn dân tộc đa số mà còn thiểu số về sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ theo như quy định trong Điều 27, ICCPR. Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam gồm 53 dân tộc ít người, chiếm 13,8% so với tổng số dân.

Có thể thấy, đặc điểm của các nhóm dân tộc thiểu số ở Việt Nam có những nét riêng.Thứ nhấtlà thiểu số về ngôn ngữ, điều này là một trở ngại trong việc bình đẳng khi tham gia các quan hệ xã hội, quan hệ pháp luật; Thứ hai,mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, điều này thể hiện sự đa dạng, phong phú của nền văn hóa Việt Nam; Thứ ba,họ là nhóm dân tộc chậm phát triển hay lạc hậu do địa bàn sinh sống của họ tập trung chủ yếu ở các vùng núi, vùng đặc biệt khó khăn có địa hình hiểm trở (vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ).

Vì vậy, nghiên cứu quyền của các dân tộc thiểu số trong pháp luật Việt Nam được xem xét trên các khía cạnh đó là: quyền bình đẳng không bị phân biệt đối xử, quyền được giữ gìn bản sắc văn hóa, quyền được nhà nước hỗ trợ phát triển.

– Quyền bình đẳng không bị phân biệt đối xử

Tương ứng với các nội dung các Điều 26, 27 ICCPR, Điều 5, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã ghi nhận: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn tọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”; Điều 16 quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Điều này được hiểu là mọi công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng các quyền và thực hiện nghĩa vụ công dân như nhau. Điều 27 quy định: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định”.

Các quy định về quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong Hiến pháp được thể chế bằng chế định về Hội đồng Dân tộc (Điều 75 Hiến pháp 2013). Theo chế định này, Hội đồng Dân tộc do Quốc hội bầu ra, bên cạnh các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan của Quốc hội, Hội đồng có nhiệm vụ nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội về công tác dân tộc, giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội miền núi và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số. Chủ tịch Hội đồng Dân tộc được mời tham dự phiên họp của Chính phủ bàn về thực hiện chính sách dân tộc. Chính phủ có trách nhiệm tham khảo ý kiến Hội đồng Dân tộc trước khi ban hành các quyết định về chính sách dân tộc. Để hỗ trợ Chính phủ trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về các vấn đề dân tộc, có một cơ quan chuyên trách cấp bộ là Uỷ ban Dân tộc.

Ngoài ra, quyền bình đẳng giữa các dân tộc còn được tái khẳng định và cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật khác của Việt Nam, cụ thể Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (Điều 1) khẳng định sự bình đẳng về quyền có quốc tịch của các dân tộc thiểu số; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (các Điều 4, 21), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (Điều 20), Luật Tố tụng hành chính 2010 (Điều 22) quy định về quyền bình đẳng của mọi công dân trong tiến hành tố tụng và quyền được sử dụng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc trong quá trình tiến hành tố tụng chính là những quy định bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số trong việc bảo đảm sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật và Toà án. Đó cũng là điều kiện để họ có thể biểu đạt được hết những suy nghĩ, biện minh cho hành vi vi phạm của mình và cũng là điều kiện để cơ quan và người tiến hành tố tụng có căn cứ xác định được sự thật khách quan của vụ án, từ đó áp dụng pháp luật một cách chính xác nhất trong việc giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 1) xác định một trong những nguyên tắc của luật hình sự là bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc. Luật Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 (Điều 8, Điều 9) quy định về sự tham gia bình đẳng của các dân tộc thiểu số vào việc bầu cử, ứng cử đại biểu Quốc hội, HĐND…

– Quyền giữ gìn bản sắc văn hóa

Hiến pháp năm 2013 (Điều 5) ghi rõ: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”; Điều 41: “Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa”; Điều 42 cũng ghi nhận: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”. Đây chính là sự khẳng định một quyền đặc thù của các nhóm thiểu số về dân tộc, đó là quyền được giữ gìn bản sắc văn hóa của cộng đồng.

Trong nhiều văn bản pháp luật khác, trong đó bao gồm Bộ luật Dân sự năm 2005 (các Điều 4, 5, 30, 31) quy định về việc bảo vệ các quyền nhân thân, quyền xác định dân tộc và quyền kết hôn giữa các dân tộc. Ngoài ra, để bảo tồn và thúc đẩy đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 39 (1998) về đẩy mạnh công tác văn hóa – thông tin ở miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chỉ thị này yêu cầu các cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương tập trung thực hiện mục tiêu nâng cao mức hưởng thụ văn hóa – thông tin cho đồng bào sống ở vùng cao, biên giới, vùng khó khăn, đồng thời làm tốt hơn nữa công tác giữ gìn và phát huy tinh hoa văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, sưu tầm, nghiên cứu, khai thác và giới thiệu, có kế hoạch bảo tồn các công trình, địa chỉ văn hóa có giá trị tiêu biểu ở vùng các dân tộc thiểu số (như chùa, tháp, nhà rông, nhà dài, nhà sàn, các làng, bản có nghề thủ công truyền thống…) và các di sản văn hóa có giá trị khác…

– Quyền được Nhà nước hỗ trợ để phát triển về mọi mặt

Hiến pháp năm 2013 không chỉ đưa ra quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong việc giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiểu số, mà quan trọng hơn là Nhà nước tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước. Đây là tư duy mới ghi nhận và khẳng định sự vươn lên của đồng bào dân tộc thiểu số chứ không phải chỉ là trông chờ vào sự giúp đỡ của Nhà nước.

Điều 58 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn”; Điều 60 quy định: “Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”, Điều 61 quy định: “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn…”. Luật Giáo dục năm 2005 (các Điều 61, 82) quy định về việc Nhà nước thành lập các trường phổ thông dân tộc nội trú, dân tộc bán trú, dự bị đại học cho con em dân tộc thiểu số và chính sách luân chuyển cán bộ quản lý giáo dục công tác ở các vùng dân tộc thiểu số được học tiếng dân tộc thiểu số để nâng cao chất lượng dạy và học; Luật Khám chữa bệnh năm 2009 (Điều 4) quy định về chính sách của Nhà nước về khám chữa bệnh cho đồng bào dân tộc thiểu số, được ưu tiên bố trí ngân sách đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh cơ bản của nhân dân.

Trách nhiệm quan trọng của Nhà nước là xây dựng, ban hành các cơ chế, chính sách thuận lợi để đồng bào có điều kiện được phát triển, phát huy nội lực của mình vươn lên toàn diện. Đó là điều căn cơ, lâu dài, bởi chỉ khi nào đồng bào dân tộc thiểu số làm chủ cuộc sống của mình thì mới có bình đẳng thực sự.

Như vậy, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam đã tiệm cận với sự bình đẳng trên thực tế giữa các dân tộc ở Việt Nam, dần thoát khỏi tư tưởng trông chờ sự giúp đỡ của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số, là điều kiện để từng bước xoá bỏ khoảng cánh về phát triển giữa các vùng, các dân tộc.

3. Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số luôn là nghĩa vụ và trách nhiệm của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Việc bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã được thực hiện qua nhiều quan điểm, đường lối, chính sách kinh tế – xã hội quan trọng.

Trong công cuộc phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay, sự giúp đỡ của Nhà nước đối với các dân tộc thiểu số luôn nằm trong chủ trương, đường lối chung là gắn phát triển kinh tế với bảo đảm công bằng xã hội giữa các tầng lớp và nhóm người trong xã hội, cụ thể đó là: tạo điều kiện ưu đãi cho các dân tộc thiểu số để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của họ, từ đó hỗ trợ họ thực hiện quyền bình đẳng, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc. Đồng bào các dân tộc thiểu số được tiếp cận nhiều hơn các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đồng bào nghèo được khám, chữa bệnh miễn phí. Quan tâm tới quyền của các dân tộc thiểu số trong đời sống vật chất, tinh thần để tiến tới đạt mặt bằng chung của cả nước. Bảo vệ, hỗ trợ quyền tự do và bình đẳng về tôn giáo của các cộng đồng dân tộc thiểu số. Xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất, thượng tầng văn hóa ở khu vực miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số cần đặc biệt chú ý tới những nét đặc thù (địa bàn cư trú, phong tục truyền thống, các đặc điểm xã hội) của các dân tộc thiểu số. Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI khẳng định sâu sắc quan điểm xây dựng, phát triển văn hóa đã nêu rõ “Giữ gìn và phát huy di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số, nhất là tiếng nói, chữ viết, trang phục, lễ hội truyền thống; các giá trị tích cực trong tôn giáo, tín ngưỡng”.

Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều đề án, chương trình và các nghị định, thông tư, quyết định để phát triển kinh tế – xã hội ở các vùng tập trung các dân tộc thiểu số, trong đó tiêu biểu như:

Chương trình 135 về phát triển kinh tế – xã hội và các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc ít người, miền núi, vùng sâu, vùng xa; Chương trình ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng, giải quyết đất sản xuất và đất ở (Quyết định 132); Hỗ trợ đất sản xuất, nhà ở và các nhu cầu thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống cho đồng bào nghèo thuộc dân tộc ít người (Quyết định 134); Đề án “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo giai đoạn 2016-2020” của Uỷ ban Dân tộc.

Nghị định số 20 (1998) về phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc và Nghị định số 02 (2002); Nghị định số 45 (2014) quy định về miễn tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở khi sử dụng đất để thực hiện chính sách nhà ở, đất ở đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hải đảo…

Nghị định số 05 (2011) về công tác dân tộc nhằm đảm bảo và thúc đẩy sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển, tôn trọng và giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc…

Ngoài ra, để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số, Chính phủ cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp quy đề cập những biện pháp cụ thể đối với một số vùng đặc thù có nhiều đồng bào dân tộc ít người sinh sống như về việc định hướng dài hạn và những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế – xã hội vùng Tây Nguyên; về phát triển kinh tế – xã hội các tỉnh đặc biệt khó khăn ở vùng miền núi phía Bắc; về phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Như vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam đã tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo đảm và thúc đẩy quyền của các dân tộc thiểu số. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi việc thực hiện quyền của các dân tộc thiểu số là vấn đề được ưu tiên trong các chính sách về phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, bởi Nhà nước Việt Nam luôn xác định việc tôn trọng, bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người nói chung, quyền của người thiểu số là thước đo của sự tiến bộ và phát triển xã hội.

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 10-2015

(1) Xem Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 2011.

Tài liệu tham khảo

1. Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 2011.

2. Tuyên ngôn Toàn thế giới về quyền con người, 1948.

3. Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966.

4. Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ, 1992.

5. Hiến pháp năm 2013.

ThS Lừ Văn Tuyên

Ban Nội chính Tỉnh ủy Sơn La

Bạn đang đọc nội dung bài viết Pháp Luật Tố Tụng Dân Sự Việt Nam Trong Tiến Trình Hội Nhập Quốc Tế / 2023 trên website Sieuphampanorama.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!