Top 21 # Xem Nhiều Nhất Khái Niệm Bằng Chứng Kiểm Toán Là Gì / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Sieuphampanorama.com

Khái Niệm Và Vai Trò Của Bằng Chứng Kiểm Toán / 2023

Chức năng của kiểm toán tài chính là “xác minh và bày tỏ ý kiến” về các bản khai tài chính, thể hiện qua quá trình thu thập và đánh giá các bằng chứng về Báo cáo tài chính của một tổ chức kinh tế cụ thể nhằm mục đính xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp của các báo cáo này với các chuẩn mực đã được thiết lập thông qua Báo cáo kiểm toán. Báo cáo kiểm toán ghi nhận các ý kiến của kiểm toán viên, nó là sản phẩm quan trọng nhất của cuộc kiểm toán, độ chính xác và hợp lý của nó phụ thuộc rất nhiều vào các bằng chứng mà kiểm toán viên thu thập được trong quá trình kiểm toán.

Theo khái niệm này bằng chứng kiểm toán bao gồm cả thông tin nhân chứng và vật chứng mà kiểm toán viên thu thập làm cơ sơ cho nhận xét của mình về Báo cáo tài chính của mình được kiểm toán. Khái niệm này cũng chỉ rõ đặc tính cơ bản của bằng chứng và mối quan hệ của bằng chứng với kết luận kiểm toán.

Cũng theo Chuẩn mực Kiểm toán số 500: Bằng chứng kiểm toán bao gồm tất cả các tài liệu, chứng từ, sổ sách kế toán, báo cáo tài chính và các tài liệu, thông tin từ những nguồn khác. Theo đó bằng chứng có thể là những thông tin bằng văn bản, thông tin bằn lời nói, các chứng từ sổ sách, các biên bản kiểm kê, giấy xác nhân của khác hàng…

Đối với mỗi loại bằng chứng khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau đến việc hình thành ý kiến của kiểm toán viên, do đó kiểm toán viên cần nhận thức cụ thể về các loại bằng chứng để có thể đánh giá bằng chứng một cách hữu hiệu trong khi thực hành kiểm toán.

Bằng chứng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đưa ra ý kiến, quyết định của kiểm toán viên về hoạt động kiểm toán, nó là cơ sở và là một trong những yếu tố quyết định độ chính xác và rủi do trong ý kiến của kiểm toán viên. Từ đó có thể thấy sự thành công cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào viêc thu thập và sau đó đánh giá bằng chứng của kiểm toán viên. Một khi kiểm toán viên không thu thập đầy đủ và đánh giá đúng các các bằng chứng thích hợp thì kiểm toán viên khó có thể đưa ra một nhận định chính sác về đối tượng cần kiểm toán.

Chuẩn mực Kiểm toán số 500 có quy định: Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến của mình về Báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán

Thông qua đó ta có thể thấy một ý nghĩa rất quan trọng đối với các tổ chức kiểm toán độc lập, các cơ quan cơ quan kiểm toán nhà nước hoặc cơ quan pháp lý, bằng chứng kiểm toán còn là cơ sở để giám sát đánh giá chất lượng hoạt động cùa kiểm toán viên trong quá trình thực hiện kiểm toán. Việc giám sát này có thể do nhà quản lý tiến hành đối với các kiểm toán viên thực hiện kiểm toán hoặc có thể do cơ quan tư pháp tiến hành đối với chủ thể kiểm toán nói chung ( Trong trường hợp xảy ra kiện tụng đối với kiểm toán viên hay công ty kiểm toán).

Khái Niệm Kiểm Toán Nội Bộ / 2023

Hiện nay, “Kiểm toán nội bộ” (KTNB) là bộ phận bắt buộc trong nhiều tổ chức doanh nghiệp. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau khi bạn tìm trên internet, nhưng không phải thông tin nào cũng mang tính xác thực. Vậy, bạn đã thật sự nắm rõ những kiến thức về kiểm toán nội bộ chưa? Bài viết này sẽ phần nào hữu ích cho bạn đấy!

Kiểm toán nội bộ là gì?

Theo chuẩn mực KTNB của IIA: ” Kiểm toán nội bộ là hoạt động đảm bảo và tư vấn độc lập, khách quan được thiết kế nhằm gia tăng giá trị và giải quyết các hoạt động của tổ chức. KTNB giúp tổ chức đạt được các mục tiêu đề ra thông qua việc áp dụng các phương pháp có hệ thống và quy tắc nhằm đánh giá và nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro, kiểm soát và các quy trình quản trị”.

Trong đó, KTNB bao gồm các hoạt động chính như sau:

Đảm bảo: Hoạt động kiểm tra khách quan các bằng chứng để đánh giá tính tuân thủ, hiệu quả và hiệu suất kiểm soát nhằm hạn chế các rủi ro.

Tư vấn: Bao gồm tư vấn xây dựng quy trình; tư vấn kiểm soát cho các dự án mới; tư vấn về việc xác định, đánh giá và quản trị rủi ro;…

Độc lập: Báo cáo về mặt chuyên môn cho Hội đồng quản trị, báo cáo hành chính cho Tổng giám đốc, thực hiện kiểm toán và trao đổi kết quả kiểm toán,…

Khách quan: Kiểm toán viên nội bộ phải có thái độ công bằng, không định kiến và tránh các xung đột lợi ích,…

Quy tắc: Tiêu chuẩn hoạt động KTNB phải được tham chiến tới các chuẩn mực kiểm toán nội bộ quốc tế quy định bởi Viện các kiểm toán viên nội bộ cũng như các quy định của Luật.

Giúp tổ chức quản trị rủi ro, đảm bảo hiệu quả kiểm soát và đánh giá, khuyến nghị để nâng cao hiệu quả quản trị.

Nguyên tắc hoạt động của KTNB:

Bao gồm có 3 nguyên tắc chính: độc lập, khách quan và chuyên nghiệp.

Độc lập: Hoạt động KTNB không chịu sự can thiệp khi xác định phạm vi kiểm toán, thực hiện kiểm toán và trao đổi kết quả kiểm toán. Tính độc lập cần được quản lý ở các cấp độ như: kiểm toán viên nội bộ, dự án kiểm toán, chức năng và cơ cấu tổ chức.

Khách quan: Kiểm toán viên nội bộ phải có thái độ công bằng, không định kiến và tránh các xung đột lợi ích. Cũng như tính độc lập, tính khách quan cần được quản lý ở các cấp độ như: dự án kiểm toán, chức năng và cơ cấu tổ chức.

Nhân sự: Đảm bảo mỗi kiểm toán viên có kiến thức, kỹ năng và năng lực phù hợp. Phải được thường xuyên đào tạo nâng cao trình độ.

Sự thành thạo và cẩn trọng hợp lý: Các cuộc kiểm toán phải được thực hiện với sự thành thạo và cẩn trọng hợp lý. Công tác giám sát phải được thực hiện đầy đủ và hiệu quả.

Quan hệ nhân sự và truyền thông: Xây dựng hệ thống truyền thông và làm việc theo nhóm hiệu quả.

Đạo đức nghề nghiệp của một KTNB

Nghề nào cũng có một chuẩn mực đạo đức riêng để đánh giá. Riêng đối với KTNB thì đạo đức nghề nghiệp được thể hiện qua các yếu tố sau:

Trung thực, cẩn trọng và trách nhiệm

Tôn trọng và đóng góp và các giá trị đạo đức và pháp lý của doanh nghiệp

Liên tục nâng cao trình độ, tính hiệu quả và chất lượng của dịch vụ kiểm toán,… Không tham gia vào các hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích

Thận trọng trong việc sử dụng và bảo vệ thông tin thu thập được khi thực hiện nhiệm vụ

Không sử dụng thông tin cho mục đích cá nhân

Làm sao để trở thành một KTNB chuyên nghiệp?

Tự hào là một trong những đơn vị đào tạo KTNB hàng đầu tại Việt Nam, chọn FMIT ® và đến với các , bạn chắc chắn sẽ không phải thất vọng. Liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn và hướng dẫn tận tình hơn tại:

BAN TƯ VẤN ĐÀO TẠO VIỆN FMIT®

Trụ sở chính: Tầng 5, 126 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, Tp. HCM

VP đại diện tại Hà Nội: Tầng 7, số 18 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Hotline: 098 854 0011 (HCM) – 093 848 6939 (HN)

KHÓA HỌC ĐÀO TẠO

Pci: Bằng Chứng Của Khái Niệm Sáng Kiến / 2023

PCI có nghĩa là gì? PCI là viết tắt của Bằng chứng của khái niệm sáng kiến. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của Bằng chứng của khái niệm sáng kiến, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của Bằng chứng của khái niệm sáng kiến trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của PCI được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài PCI, Bằng chứng của khái niệm sáng kiến có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

PCI = Bằng chứng của khái niệm sáng kiến

Tìm kiếm định nghĩa chung của PCI? PCI có nghĩa là Bằng chứng của khái niệm sáng kiến. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của PCI trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của PCI bằng tiếng Anh: Bằng chứng của khái niệm sáng kiến. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

Như đã đề cập ở trên, PCI được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho Bằng chứng của khái niệm sáng kiến. Trang này là tất cả về từ viết tắt của PCI và ý nghĩa của nó là Bằng chứng của khái niệm sáng kiến. Xin lưu ý rằng Bằng chứng của khái niệm sáng kiến không phải là ý nghĩa duy chỉ của PCI. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của PCI, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của PCI từng cái một.

Ý nghĩa khác của PCI

Bên cạnh Bằng chứng của khái niệm sáng kiến, PCI có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của PCI, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của Bằng chứng của khái niệm sáng kiến bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của Bằng chứng của khái niệm sáng kiến bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.

Khái Niệm Kế Toán Vốn Bằng Tiền Và Nghiệp Vụ Thanh Toán / 2023

Khái niệm kế toán vốn bằng tiền và nghiệp vụ thanh toán : Vốn bằng tiền của doanh nghiệp là tài sản tồn tại trực tiếp dưới hình thái giá trị bao gồm tiền mặt tại quỹ, …

1.1. Khái niệm: 1.1.1. Vốn bằng tiền: Vốn bằng tiền của doanh nghiệp là tài sản tồn tại trực tiếp dưới hình thái giá trị bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền đang chuyển và tiền gửi ngân hàng. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn bằng tiền vừa được sử dBng để đáp ứng nhUcầu về thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hoặc mua sắm vật tư, hàng hóa để sản xuất kinh doanh, vừa là kết quả của việc mua bán hoặc thu hồi các khoản nợ. Vì vậy, quy mô vốn bằng tiền phản ánh khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp và là một bộ phận của vốn lưu động. Mặt khác, vốn bằng tiền là loại vốn đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lí hết sức chặt chẽ vì trong quá trình luân chuyển vốn bằng tiền rất dễ bị tham ô, lợi dụng, mất mát. Do vậy, việc sử dụng vốn bằng tiền cần phải tuân thủ các nguyên tắc, chế độ quản lí tiền tệ thống nhất của nhà nước. Chẳng hạn, tiền mặt tại quỹ của doanh nghiệp dùng để chi hàng ngày không vượt quá mức tồn quỹ mà doanh nghiệp và ngân hàng đã thoả thuận ghi trong hợp đồng tiền mặt, khi có tiền thu bán hàng bằng tiền mặt thì doanh nghiệp phải nộp vào ngân hàng. 1.1.2. Các nghiệp vụ thanh toán: Quan hệ thanh toán được hiểu là một loại quan hệ kinh doanh xảy ra khi doanh nghiệp có quan hệ phải thu, phải trả với con nợ và chủ nợ của mình về một khoản vay nợ tiền vốn cho kinh doanh. Mọi quan hệ thanh toán đều tồn tại trong sự cam kết vay nợ giữa chủ nợ và con nợ về một khoản tiền theo điều khoản đã qui định có hiệu lực trong thời hạn vay nợ.

1.2. Nguồn gốc phát sinh vốn bằmg tiền và các quan hệ thanh toán trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Muốn tiến hành được hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp đều phải tiến hành mua vật tư, hàng hoá đầu vào. Đến khâu cuối cùng của mỗi chu kì sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp tiến hành bán sản phẩm hàng hoá để hưởng phần chênh lệch, nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh của mình là tìm kiếm lợi nhuận. Rõ ràng, các nghiệp vụ mua bán tồn tại song song với chặng đường hình thành và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Hay nói một cách cụ thể hơn, các hoạt động mua bán diễn ra trong mọi quá trình tái sản xuất, từ khâu mua các yếu tố đầu vào, qua khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ bán thành phẩm, hàng hoá của mỗi doanh nghiệp. Trong mối quan hệ về các nghiệp vụ thanh toán thì người mua mong muốn mua được hàng hoá còn người bán mong muốn thu được tiền ngay sau khi bán hàng. Trong trường hợp hai bên đều đạt được mục đích của mình thì đó là phương thức mua bán trả tiền ngay. Trong mối quan hệ đó lại nảy sinh việc thanh toán bằng các loại tiền như: tiền mặt, TGNH, tiền đang chuyển… Tiền là một yếu tố rất cần thiết cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nó thể hiện được khả năng tài chính của doanh nghiệp có khả quan hay không. Trong thời gian mới bắt đầu thanh lập doanh nghiệp tiền là một lượng vốn tối thiểu để quyết định sự hình thành của doanh nghiệp. Nhưng trong hoạt động sản xuất kinh doanh các nghiệp vụ kinh tế xảy ra rất đa dạng và phức tạp, không phải lúc nào các quan hệ thanh toán cũng được thực hiện ngay sau khi phát sinh. Mục đích của các doanh nghiệp đều mong muốn tiêu thụ được nhiều hàng hoá, có mối quan hệ rộng và lâu dài với khách hàng. Bên cạnh đó, tính chất liên tục kế tiếp của các chu kỳ kinh doanh buộc các doanh nghiệp khác phải mua vật tư, hàng hoá, thuê nhân công… mặc dù cung về vốn không đáp ứng đủ cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, các doanh nghiệp này vẫn mua được hàng hoá thông qua phương thức mua chịu. Từ những nguyên nhân nêu ở trên làm nảy sinh các quan hệ thanh toán. Khi thanh toán ngay, tiền sẽ là vật ngang giá chung trong quá trình mua bán hàng hoá. Nếu như doanh nghiệp không lâm vào tình trạng suy thoái hay phá sản, loại trừ được các khoản nợ nần không hợp pháp, không lành mạnh, thì có thể nhìn vào tính chất rộng lớn, đa phương và phức tạp của quan hệ thanh toán để đánh giá được mức độ tăng trưởng của một doanh nghiệp trên thương trường. Tóm lại, trong hoạt động sản xuất kinh doanh với mục tiêu mua và bán sản phẩm, vật tư, hàng hoá… các doanh nghiệp đều có mối quan hệ thanh toán ngay bằng tiền hoặc có quan hệ thanh toán về các khoản phải thu và phải trả. Từ đó, tạo nên trong xã hội một mạng lưới hệ thống các doanh nghiệp với mỗi mắt xích là một quan hệ thanh toán khác nhau. Vốn bằng tiền và các quan hệ thanh toán bao giờ cũng vẫn phải theo được dõi quả lý trên các góc độ khác nhau của các khoản tiền thanh toán và khoản tiền còn nợ. Trong doanh nghiệp, có rất nhiều mối quan hệ thanh toán khác nhau nảy sinh trong quá trình kinh doanh. Tuy nhiên, dưới góc độ thông tin cho quản lí, kế toán thường phân các quan hệ thanh toán vào các nhóm sau: – Thanh toán giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp, các khách hàng trong quan hệ mua bán vật tư, hàng hoá, tài sản, dịch vụ… Thanh toán với người nhận thầu; thanh toán với người cung cấp lao vụ, dịch vụ. – Quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với người lao động trong doanh nghiệp về tiền công, tiền thưởng, trợ cấp và các khoản thu nhập cá nhân phân phối khác cho họ. – Thanh toán giữa doanh nghiệp với bên đối tác liên doanh trong quan hệ liên kết như việc góp vốn, nhận vốn, thu hồi vốn, trả vốn phân chia kết quả… – Thanh toán giữa doanh nghiệp với ngân hàng và chủ kinh doanh tín dụng khác về một khoản tiền vay. – Thanh toán giữa doanh nghiệp với ngân sách về các khoản phải nộp tài chính theo nghĩa vụ. – Thanh toán giữa doanh nghiệp với bên trong nội bộ tổ chức của một pháp nhân kinh tế do phát sinh nghiệp vụ điều hoà, cấp phát, hoàn trả vốn kinh doanh nội bộ, nghiệp vụ thu, chi hỗ trợ lẫn nhau; nghiệp vụ mua vào, bán hộ trong nội bộ các tổ chức thành viên trực thuộc. – Thanh toán với các tổ chức, cá nhân cơ quan bên trong và bên ngoài doanh nghiệp do các nghiệp vụ vay nợ, vãng lai.