Top 2 # Xem Nhiều Nhất Khái Niệm Bit Ảnh Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Sieuphampanorama.com

‘Giải Ngố’ Khái Niệm Độ Sâu Bit (Bit Depth) Được Dùng Trong Nhiếp Ảnh

Những ai từng chụp ảnh hoặc có tìm hiểu về công nghệ ảnh số cũng sẽ từng nghe qua về khái niệm Độ sâu Bit (Bit Depth), với những con số thường thấy là 8 Bits, 10 Bits, 14 Bits và 16 Bits. Vậy thông số này về bản chất là gì, và liệu rằng độ sâu Bit càng cao thì chất lượng ảnh cũng càng tốt hay không?

Có lẽ ai cũng biết, những bức ảnh màu có chứa những điểm ảnh, và mỗi điểm ảnh lại được cấu thành bởi 3 màu sắc là đỏ, xanh lá và xanh dương, sau đó phối trộn để tạo được tất cả những màu khác nhau.

Bit Depth là con số chỉ định mỗi kênh màu này có bao nhiêu giá trị, từ màu thuần khiết tới màu đen hoàn toàn. Ví dụ, ở 8 Bits thì ta sẽ có 2^8 (256) cho mỗi giá trị màu đỏ, màu xanh lá và xanh dương để ta có thể pha trộn.

Để giải thích dễ hiểu hơn, ta sẽ chuyển qua ảnh đen trắng, khi không còn màu sắc nữa. Nếu ảnh có có 1 Bit duy nhất, thì mỗi điểm ảnh chỉ có thể đạt 1 trong 2 giá trị là đen và trắng. Như bức ảnh phía dưới đã chỉ ra, ảnh 1 Bits sẽ gồm toàn những hình vuông đen trắng, nhìn như một tập hợp các mã QR vậy!

Ngược lại, khi tăng số Bit lên thì ta sẽ có những giá trị nằm giữa đen và trắng, là các sắc độ xám khác nhau. Lúc này ảnh sẽ được chuyển vùng một cách mượt mà giữa các phần với nhau, không còn vỡ hạt như bức hình ở phía trên nữa.

Với ảnh màu, mỗi màu đỏ, xanh và xanh dương sẽ có một giá trị Bit khác nhau, nên ở 8 Bits ta sẽ có tổng cộng 2^8 x 3 màu, tức khoảng 16.7 triệu giá trị màu sắc khác nhau. Khi lên tới 16 Bits, thì số màu sẽ là 2^16 x 3, lên tới 281 nghìn tỷ màu.

Vậy qua những ví dụ trên thì chắc chắn ai cũng nghĩ rằng, ảnh 16 Bits chắc chắn sẽ tốt hơn ảnh 8 Bits, vì gồm nhiều bước màu hơn hẳn, giúp cho ảnh ‘mượt’ hơn và đẹp hơn? Không hoàn toàn như vậy. Theo như các nhà khoa học, thì mắt người chỉ có thể phân biệt 2 màu khác nhau khi chúng…đủ khác nhau.

Ví dụ như ở 16 Bits, 2 màu đỏ cách nhau 256 giá trị thì chỉ cách nhau trên bảng màu 8 Bits có 1 giá trị duy nhất mà thôi. Màu đỏ R:225 (trái) và đỏ R:254 (phải) khác nhau quá ít, trong đa phần trường hợp mọi người sẽ không thể phân biệt được. Hơn nữa, gần như toàn bộ màn hình hiện nay cũng chỉ có khả năng hiển thị 8 Bits, những màn hình cao cấp chuyên cho mục đích đồ họa có thể lên tới 10 Bits, nhưng có giá bán đắt và rất ít được hỗ trợ bởi thành phần đồ họa (GPU).

Ảnh 16 Bits hữu ích nhất ở công đoạn chỉnh sửa, khi người dùng sẽ ‘kéo dãn’ bức ảnh về những giá trị màu khác nhau, làm cho hệ màu 8 Bits bị phân mảnh và dẫn tới hiện tượng kẻ sọc (banding). Thế nhưng một khi đã chỉnh sửa xong, thì người dùng hoàn toàn có thể lưu ảnh ở màu 8 Bits, không cần thiết phải lưu cao hơn.

Vậy ta có thể khẳng định lại được một điều đã cũ nhưng vẫn hay bị hiểu nhầm: số Bits hoàn toàn có ảnh hưởng tới chất lượng ảnh, nhưng sau 8 Bits thì độ khác nhau đã vượt quá khả năng thu nhận của mắt người rồi, nên không cần thiết nữa. Ảnh có Bit Depth cao chỉ có giá trị trong chỉnh sửa, còn trong việc lưu trữ hoặc đăng tải thì luôn luôn thừa.

Bit Là Gì? Byte Là Gì? Những Khái Niệm Cơ Bản Về Bit &Amp; Byte

Nào, bây giờ hãy cùng Tất Thành khám phá:

Thuật ngữ Bit – viết tắt của binary digit, là đơn vị nhỏ nhất dùng để biểu diễn thông tin trong máy tính. Mỗi bit là một chữ số nhị phân 0 hoặc 1 thể hiện một trong hai trạng thái tắt hoặc mở tương ứng của cổng luận lí trong mạch điện tử. Cũng cần nói thêm là hệ nhị phân đã trở thành một phần kiến tạo căn bản trong máy tính ngày nay và ngôn ngữ giao tiếp cấp thấp vẫn sử dụng hệ đếm cơ số hai này.

Byte là gì?

Thuật ngữ byte dùng để mô tả một dãy số bit cố định, do Werner Buchholz đưa ra trong thời gian đầu thiết kế hệ thống IBM 7030. Một byte có 8 bit, biểu thị được 256 giá trị khác nhau (2^8 = 256) đủ để lưu trữ một số nguyên không dấu từ 0 đến 255 hoặc số có dấu từ -128 đến 127. Tuy nhiên vào thời gian đầu, một số máy tính cũ hơn như IBM 1401 chỉ dùng 6 bit trong một byte cho đến cuối năm 1956, quy chuẩn về byte 8 bit mới được thiết lập.

Khi nào dùng bit và byte?

Thông thường, byte được dùng để biểu thị dung lượng của thiết bị lưu trữ trong khi bit chủ yếu dùng để mô tả tốc độ truyền tải dữ liệu của thiết bị lưu trữ và trong mạng viễn thông. Ngoài ra, bit còn dùng để chỉ khả năng tính toán của CPU và một số khác nhưng trong giới hạn bài viết này, chúng tôi không đề cập đến.

Byte được viết tắt là “B” trong khi ”b” là kí hiệu của bit và 8 bit ghép thành 1 byte. Muốn đổi từ bit sang byte thì chia giá trị đó cho 8. Chẳng hạn 1 Gb (gigabit) = 0,125 GB (gigabyte) = 125 MB. Thêm một ví dụ thực tế là mạng 4G LTE Cat 6 hiện của Hàn Quốc đạt tốc độ 300 Mbps (megabit mỗi giây), tức là về lí thuyết, thông lượng tối đa mạng có thể truyền tải là 37,5 MBps (megabyte mỗi giây).

Các tiền tố được ghép vào để chỉ những đơn vị lớn hơn của bit và byte là kilo, mega (M), giga (G), tera (T), peta (P), exa (E), zetta (Z) và yotta (Y). Riêng với kilo, trong hệ thập phân sẽ dùng “k” và hệ nhị phân là “K”.

Điểm cần lưu ý nữa là khi chuyển đổi, bạn đọc cần phân biệt giữa hai phân hệ là thập phân (Decimal) và nhị phân (Binary). Để tránh nhầm lẫn, một số tổ chức tiêu chuẩn như JEDEC, IEC và ISO đã đưa ra đề nghị dùng thuật ngữ thay thế là kibibyte (KiB), mebibyte (MiB), gibibyte (GiB), tebibyte (TiB) trong đo lường dữ liệu số máy tính theo hệ nhị phân. Theo đó, chẳng hạn 1 KB = 1000 byte còn 1 KiB = 1024 byte, 1 MB = 1000 KB = 1.000.000 byte còn 1 MiB = 1024 KiB = 1.048.576 byte. Tuy nhiên các đơn vị KiB, MiB… chỉ được hỗ trợ trên các hệ thống mới nhất, còn hệ thống cũ vẫn chỉ dùng KB, MB…

Dung lượng ổ cứng

Ổ cứng máy tính ngày càng rẻ và có dung lượng lưu trữ cao hơn. Ổ cứng 500 GB được xếp vào mức cơ bản và cao nhất hiện nay là 6 TB với giá vào khoảng 6,6 đến 6,9 triệu đồng. Tuy nhiên khi sử dụng thực tế, bạn sẽ phát hiện rằng dung lượng ổ cứng không đủ 500 GB như thông tin nhà sản xuất công bố. Hơn nữa khi so sánh dung lượng phân vùng ổ cứng đã sử dụng và tổng dung lượng tất cả thư mục, tập tin lưu trữ cũng không bằng nhau. Vậy tại sao có sự chênh lệch này và dung lượng ổ cứng đã mất đi đâu ?

Về bản chất thì dung lượng ổ cứng không đổi và sự sai lệch nằm ở cách tính của nhà sản xuất và hệ điều hành. Cụ thể nhà sản xuất tính dung lượng ổ cứng theo hệ thập phân, chẳng hạn 1 MB = 10^6 byte và 1 GB = 10^9 byte. Trong khi đó máy tính và những phần mềm ứng dụng lại sử dụng hệ nhị phân như đã nêu ở phần trên. Một cách chính xác, ổ cứng 1 TB có 10^12 byte dữ liệu, và tương đương với 0,91 TiB. Các phần mềm cũ sẽ hiển thị 0,91 TB thay vì dùng đơn vị mới 0,91 TiB.

Tốc độ truyền tải dữ liệu

Chuẩn giao tiếp SATA được giới thiệu lần đầu vào năm 2001 và hiện là chuẩn phổ biến dùng cho các thiết bị lưu trữ gắn trong như ổ cứng, SSD và ổ quang. SATA đã trải qua ba thế hệ với tốc độ truyền dẫn nhanh hơn, gồm SATA 1.0 có tốc độ 1,5 Gb/s, SATA 2.0 là 3 Gb/s và SATA 3.0 có tốc độ truyền dữ liệu lên tới 6 Gb/s.

Nếu quy đổi từ Gb/s (gigabit mỗi giây) sang MB/s (megabyte mỗi giây) thì tốc độ truyền dữ liệu của các chuẩn SATA tương ứng lần lượt là 192, 384 và 768 MB/s. Tuy nhiên có nhiều bạn thắc mắc một số website lại ghi tốc độ SATA 1.0 là 150 MB/s, SATA 2.0 là 300 MB/s và SATA 3.0 là 600 MB/s.

Vấn đề nằm ở phương thức truyền dữ liệu qua mạng. Chuẩn SATA dùng kĩ thuật mã hóa 8b/10b (là sự sắp mã theo byte, mỗi byte dữ liệu được gán thêm 1 hoặc 2 bit). Thông tin truyền nhận không chỉ có dữ liệu thực tế mà còn cả các thông tin điều khiển nhằm xác thực, đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu khi gửi. Như vậy nếu loại bỏ bit thông tin gán thêm thì tốc độ tải dữ liệu thực tế của chuẩn SATA 1.0 là 150 MB/s, SATA 2.0 là 300 MB/s và SATA 3.0 là 600 MB/s như đã nêu trên.

Tương tự giao tiếp PCI Express 1.0 và 2.0 cũng sử dụng phương thức mã hóa 8b/10b trong khi PCIe 3.0 áp dụng kĩ thuật “scrambling”, dùng hàm nhị phân để biểu diễn luồng dữ liệu. Chính nhờ vậy mà chuẩn PCI Express 3.0 tăng gấp đôi hiệu năng so với thế hệ 2.0 nhưng chỉ cần tốc độ bit là 8 GT/s thay vì phải cần đến 10 GT/s (gigatransfer/giây).

Bài 2: Khái Niệm Bit Và Byte – Baolan2005

I. Bit là gì?

Bit là từ viết tắt của binary digit, đây là đơn vị cơ bản được dùng trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Như ở bài trước, máy tính dùng hệ nhị phân để biểu diễn và tính toán cũng như truyền tải thông tin, và bit ở đây là một giá trị cơ bản mang giá trị là 0 hoặc 1.

Ví dụ: số 125 ở hệ thập phân có giá trị biểu diễn ở hệ nhị phân là 1111101. Ở đây có 7 chữ số 1 và 0, mỗi chữ số như vậy gọi là một bit.

Chúng ta thường nghe đến lắp mạng internet người ta thường hay hỏi là lắp mạng gói cước bao nhiêu “mê” hay bao nhiệu “ghi”. Đây là từ gọi tắt của của Mega bits per second (mega bit trên một giây – Mbps) hay Gigabits per second (giga bit trên một giây – Gbps), đây là giá trị biểu diễn tốc độ truyền tải tín hiệu trong một giây sẽ truyền được bao nhiêu bit.

II. Byte là gì?

Byte là đơn vị dùng để lưu trữ dữ liệu trên máy tính, một byte bao gồm 8 bit và nó biểu diễn 2^8=256 giá trị khác nhau. Như vậy với 1 byte ta sẽ có thể biểu diễn số từ 0 đến 255.

Với vị dụ ở trên số 125 biểu diễn ở nhị phân là 1111101, tuy nhiên ở đây chỉ có 7 bit, do đó để biểu diễn đủ 1 byte thì ta thêm số 0 vào bên trái của dãy để đủ 8 bit tạo nên 1 byte. Như vậy 125 biểu diễn ở 1 byte có giá trị như sau 01111101

III. Ký hiệu và chuyển đổi:

Ký hiệu quốc tế của bit là chữ ‘b’ in thường, còn ký hiệu của byte là chữ ‘B’ in hoa. Lưu ý điều này để tránh nhầm lẫn vì nếu ghi là GB thì sẽ hiểu là giga bytes, còn nếu ghi là Gb thì sẽ hiểu là giga bits. Hai giá trị này hoàn toàn khác nhau.

Khái Niệm Ảnh Viễn Thám Modis Là Gì?

Khái niệm ảnh viễn thám Modis được thu từ bộ cảm MODIS đặt trên vệ tinh Terra (2000) và vệ tinh Aqua (2002) có mục đích cung cấp dữ liệu về đất liền, biển và khí quyển một cách đồng thời.

Viễn thám không chỉ tìm hiểu bề mặt của Trái Đất hay các hành tinh mà nó còn có thể thăm dò được cả trong các lớp sâu bên trong các hành tinh. Trên Trái Đất, người ta có thể sử dụng máy bay dân dụng, chuyên dụng hay các vệ tinh nhân tạo để thu phát các ảnh viễn thám.

Ảnh viễn thám (ảnh vệ tinh): là ảnh số thể hiện các vật thể trên bề mặt trái đất được thu nhận bởi các bộ cảm biến đặt trên vệ tinh

Ảnh viễn thám Modis là gì?

Ảnh MODIS cung cấp dữ liệu ảnh toàn cầu 2 ngày một lần với độ phân giải không gian là 250m, 500m và 1000m. Số kênh phổ của MODIS là 36 kênh và dữ liệu ở dạng 12 bit, MODIS có đặc tính chỉnh hình học và phổ. Phương pháp chỉnh phổ kênh đối với kênh được tham chiếu cho 36 kênh cho ra sai số ½ pixel hoặc cao hơn.

Ứng dụng của ảnh viễn thám modis

Từ những thống kê thông số kỹ thuật và độ phân giải có thể thấy tầm quan trọng của ảnh vệ tinh trong nhiều lĩnh vực như: ứng dụng ảnh viễn thám trong thực tế, ứng dụng ảnh viễn thám trong quản lý tài nguyên môi trường, ứng dụng ảnh viễn thám trong quản lý đất đai …

Dữ liệu của ảnh MODIS bao gồm các loại sau: – Dữ liệu nghiên cứu mây với độ phân giản 250m x 1000m vào ban ngày và độ phân giải 1000m x 1000m vào ban đêm. – Nồng độ tầng đối lưu và đặc tính quang với độ phân giải 5km cho vùng biển và 10km cho đất liền vào ban ngày. – Đặc tính về mây, độ dầy quang học, ảnh hưởng của bán kính hạt, pha nhiệt động học, mây ở các vùng vĩ tuyến cao, nhiệt độ mây ở độ phân giải 1km- 5km ban ngày và 5km vào ban đêm. – Phủ thực vật đất: điều kiện và năng suất được đặc trưng bởi chỉ số thực vật, được hiệu chỉnh tác động của khí quyển, đất, phân cực và ảnh hưởng theo hướng phản xạ bề mặt, kiểu phủ đất và năng suất nguyên thủy thực, chỉ số lá theo diện tích và bức xạ hiệu lực mang tính quang hợp bị chắn. – Phản xạ về diện tích phủ của tuyết và băng trên biển – Đo nhiệt độ bề mặt với độ phân giải 1km vào ban ngày và đêm với độ chính xác của hiệu chỉnh tuyệt đối là 0,3-0,50 tại đại dương và mặt đất. – Màu của biển (phổ phát xạ của đại dương được đo 5%), dựa trên dữ liệu kênh phổ trong giải sóng nhìn thấy và hồng ngoại gần. – Nồng độ chlorophyl a (với 35%) từ 0,05 đến 50mg/m3 cho nước. – Huỳnh quang của chlorophyl (50%) trên bề mặt với nồng độ 0,5mg/m3 của chlorophyla.