Top 11 # Xem Nhiều Nhất Khái Niệm Bit Trong Tin Học Là Gì Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Sieuphampanorama.com

Bit Là Gì? Byte Là Gì? Khái Niệm Đúng Nhất Về Bit Và Byte

Bit là gì?

Bit – viết tắt của binary digit, là đơn vị nhỏ nhất dùng để biểu diễn thông tin trong máy tính. Mỗi bit là một chữ số nhị phân 0 hoặc 1 thể hiện một trong hai trạng thái tắt hoặc mở tương ứng của cổng luận lí trong mạch điện tử. Cũng cần nói thêm là hệ nhị phân đã trở thành một phần kiến tạo căn bản trong máy tính ngày nay và ngôn ngữ giao tiếp cấp thấp vẫn sử dụng hệ đếm cơ số hai này.

Byte là gì?

Byte dùng để mô tả một dãy số bit cố định, do Werner Buchholz đưa ra trong thời gian đầu thiết kế hệ thống IBM 7030. Một byte có 8 bit, biểu thị được 256 giá trị khác nhau (2^8 = 256) đủ để lưu trữ một số nguyên không dấu từ 0 đến 255 hoặc số có dấu từ -128 đến 127. Tuy nhiên vào thời gian đầu, một số máy tính cũ hơn như IBM 1401 chỉ dùng 6 bit trong một byte cho đến cuối năm 1956, quy chuẩn về byte 8 bit mới được thiết lập.

Một Byte bằng bao nhiêu Bit?

Một Byte tương đương với 8 Bit và là đơn vị bộ nhớ nhỏ nhất có thể được xử lý trong nhiều hệ thống máy tính. Danh sách sau đây cho thấy mối quan hệ giữa tất cả các đơn vị dữ liệu khác nhau dựa trên đơn vị Bit và Byte.

Khi nào dùng bit và byte ?

Thông thường, byte được dùng để biểu thị dung lượng của thiết bị lưu trữ trong khi bit chủ yếu dùng để mô tả tốc độ truyền tải dữ liệu của thiết bị lưu trữ và trong mạng viễn thông. Ngoài ra, bit còn dùng để chỉ khả năng tính toán của CPU và một số khác nhưng trong giới hạn bài viết này, chúng tôi không đề cập đến.

Là một giao thức để điều khiển truyền thông giữa toàn bộ các máy tính qua mạng Internet, giúp truyền tải thông tin giữa các máy tính với chúng tôi nhiên tcp là gì thì không phải ai cũng nắm được.

Byte được viết tắt là “B” trong khi “b” là kí hiệu của bit và 8 bit ghép thành 1 byte. Muốn đổi từ bit sang byte thì chia giá trị đó cho 8. Chẳng hạn 1 Gb (gigabit) = 0,125 GB (gigabyte) = 125 MB. Thêm một ví dụ thực tế là mạng 4G LTE Cat 6 hiện của Hàn Quốc đạt tốc độ 300 Mbps (megabit mỗi giây), tức là về lí thuyết, thông lượng tối đa mạng có thể truyền tải là 37,5 MBps (megabyte mỗi giây).

Các tiền tố được ghép vào để chỉ những đơn vị lớn hơn của bit và byte là kilo, mega (M), giga (G), tera (T), peta (P), exa (E), zetta (Z) và yotta (Y). Riêng với kilo, trong hệ thập phân sẽ dùng “k” và hệ nhị phân là “K”.

Điểm cần lưu ý nữa là khi chuyển đổi, bạn đọc cần phân biệt giữa hai phân hệ là thập phân (Decimal) và nhị phân (Binary). Để tránh nhầm lẫn, một số tổ chức tiêu chuẩn như JEDEC, IEC và ISO đã đưa ra đề nghị dùng thuật ngữ thay thế là kibibyte (KiB), mebibyte (MiB), gibibyte (GiB), tebibyte (TiB) trong đo lường dữ liệu số máy tính theo hệ nhị phân. Theo đó, chẳng hạn 1 KB = 1000 byte còn 1 KiB = 1024 byte, 1 MB = 1000 KB = 1.000.000 byte còn 1 MiB = 1024 KiB = 1.048.576 byte. Tuy nhiên các đơn vị KiB, MiB… chỉ được hỗ trợ trên các hệ thống mới nhất, còn hệ thống cũ vẫn chỉ dùng KB, MB…

Tốc độ truyền tải dữ liệu

Chuẩn giao tiếp SATA được giới thiệu lần đầu vào năm 2001 và hiện là chuẩn phổ biến dùng cho các thiết bị lưu trữ gắn trong như ổ cứng, SSD và ổ quang. SATA đã trải qua ba thế hệ với tốc độ truyền dẫn nhanh hơn, gồm SATA 1.0 có tốc độ 1,5 Gb/s, SATA 2.0 là 3 Gb/s và SATA 3.0 có tốc độ truyền dữ liệu lên tới 6 Gb/s.

Nếu quy đổi từ Gb/s (gigabit mỗi giây) sang MB/s (megabyte mỗi giây) thì tốc độ truyền dữ liệu của các chuẩn SATA tương ứng lần lượt là 192, 384 và 768 MB/s. Tuy nhiên có nhiều bạn thắc mắc một số website lại ghi tốc độ SATA 1.0 là 150 MB/s, SATA 2.0 là 300 MB/s và SATA 3.0 là 600 MB/s.

Vấn đề nằm ở phương thức truyền dữ liệu qua mạng. Chuẩn SATA dùng kĩ thuật mã hóa 8b/10b (là sự sắp mã theo byte, mỗi byte dữ liệu được gán thêm 1 hoặc 2 bit). Thông tin truyền nhận không chỉ có dữ liệu thực tế mà còn cả các thông tin điều khiển nhằm xác thực, đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu khi gửi. Như vậy nếu loại bỏ bit thông tin gán thêm thì tốc độ tải dữ liệu thực tế của chuẩn SATA 1.0 là 150 MB/s, SATA 2.0 là 300 MB/s và SATA 3.0 là 600 MB/s như đã nêu trên.

Tương tự giao tiếp PCI Express 1.0 và 2.0 cũng sử dụng phương thức mã hóa 8b/10b trong khi PCIe 3.0 áp dụng kĩ thuật “scrambling”, dùng hàm nhị phân để biểu diễn luồng dữ liệu. Chính nhờ vậy mà chuẩn PCI Express 3.0 tăng gấp đôi hiệu năng so với thế hệ 2.0 nhưng chỉ cần tốc độ bit là 8 GT/s thay vì phải cần đến 10 GT/s (gigatransfer/giây).

Bit Là Gì? Byte Là Gì? Phân Biệt Hai Khái Niệm Bit Và Byte

Trước khi tìm hiểu các đơn vị đo lượng thông tin, các bạn cần nắm được hai khái niệm cơ bản sau:

Một là, khái niệm thông tin. Bạn có thể hiểu thông tin là một sự thông báo, trao đổi, giải thích về một đối tượng, sự việc nào đó và thường được thể hiện dưới dạng các tín hiệu như chữ số, chữ viết, âm thanh, dòng điện…

Hai là khái niệm dữ liệu. Tương tự như thông tin, khái niệm dữ liệu cũng rất trừu tượng. Thông tin sau khi được đưa vào máy tính sẽ được gọi là dữ liệu và ngược lại, dữ liệu sau khi tập hợp lại và xử lý sẽ tạo ra thông tin. Do đó, các bạn có thể hiểu dữ liệu là thông tin đã được mã hoá trong máy tính.

1. Bit là gì?

A Bit là gì? Đây là đơn vị nhỏ nhất dùng để biểu diễn thông tin trong máy tính.Bit là tên viết tắt của Binary digit dùng để đo tốc độ truyền tải của thông tin qua mạng, bit là đơn vị cơ bản của thông tin theo hệ cơ số nhị phân (0 và 1).

Làm sao để biết máy tính bao nhiêu bit?

Cách 2: Vào ổ C nếu thấy có thư mục Program Files (x86), tức là máy tính của bạn đang chạy Windows 64bit, nếu chỉ có thư mục Program Files thì máy bạn là Windows 32bit.

Cách 3: Nhấn tổ hợp phím tắt start + R và điền msinfo32 vào sau đó nhấn enter. Một cửa sổ mới sẽ mở ra và bạn sẽ nhìn được toàn bộ thông tin của hệ thống.

Cách 4: Sử dụng phần mềm 64bit-checker để kiểm tra. Đây là một phần mềm máy tính khá nhỏ gọn và miễn phí.

2. Byte là gì?

Byte là một đơn vị dùng để lưu trữ các dữ liệu trong máy tính, nó dùng để mô tả một dãy bit cố định. Vậy 1 byte thì bằng bao nhiêu bit? mỗi byte có 8 bit (bao gồm 2^8=256 giá trị khác nhau) để lưu trữ các số nguyên không âm nằm trong khoảng từ 0 đến 225 hay một số có dấu (có thể âm hoặc dương) trong khoảng từ -128 đến 127.

3. Cách chuyển đổi từ bit sang byte và ngược lại

1 Byte = 8 Bits, như vậy, với 1 file có dung lượng 10MB, chỉ mất 1 giây để truyền từ máy A sang máy B, chúng ta sẽ thấy đường truyền từ máy A sang máy B có tốc độ 80Mbps (10MB x 8 = 80Mbps).

4. Dung lượng ổ cứng:

Để giải thích rõ hơn cho chức năng của byte là đơn vị dùng để lưu trữ các dữ liệu trong máy tính thì chúng ta có thể vào xem dung lượng ổ cứng trong máy tính, ví dụ ở đây mình có ổ C:

Capacity là tổng dung lượng ổ cứng (97,6 GB)Free space là dung lượng còn lại (7.19 GB)Used space: là dung lượng đã sử dụng (90.4 GB)

Vậy Bạn có biết, dung lượng trong dịch vụ máy chủ riêng là bit hay byte?

5. Tốc độ truyền tải thông tin:

Hiện nay đa số tốc độ truyền tải thông tin được đo bởi 2 loại đơn vị là Mbps (megabit trên giây) và MBps (megabyte trên giây). Các bạn lưu ý cách viết chữ hoa, chữ thường: Mb chính là Megabit, MB chính là Megabyte, chúng hoàn toàn khác nhau.

Sự khác nhau giữa Mb và MB là gì? Về cơ bản nhìn chúng có vẻ không có gì khác biệt nhưng khi áp dụng vào tính toán những thứ như tốc độ của Internet, dung lượng ổ cứng hoặc của một tập tin, thư mục… thì chúng lại khác nhau rất nhiều. Mb được dùng để nói về lưu trữ số. Mbps thường được dùng để nói đến tốc độ truyền dữ liệu số.

Bit là để đo tốc độ đường truyền qua mạng, đơn vị là Kbps (kilobit per second), Mbps (Megabit per second), Gbps (Gigabit per second).Byte là để đo dung lượng của file lưu trữ, đơn vị là KB (Kilobyte), MB (Megabyte), GB (Gigabyte)

Ở phần trên, chúng tôi đã giải thích cho các bạn độc giả khái niệm MB, Mb, cách phân biệt 2 đơn vị đo này. Ngoài Mbps ra, bạn còn cần quan tâm đến 1 đơn vị đo lường khác – đó là Kbps. Vậy Kbps là gì? Kbps =kilobit per second, là đơn vị đo tốc độ truyền dẫn dữ liệu, thường được dùng để đo băng thông của dịch vụ Internet dân dụng.

1 Mbps tương đương với 1.000 kilobit (Kbps) trên giây hoặc 1.000.000 bit trên giây (bps).

Nếu Bạn muốn sử dụng đường truyền tốc độ cao, thì có thể thuê đường truyền gói Doanh nghiệp hoặc dành cho quán game. Cũng có thể thuê vps giá rẻ là có thể sử dụng Windows có tốc độ mạng cao (từ 100Mbps)

Đối với mạng mà chúng ta đang sử dụng thì thường dùng đơn vị là Mbps, ví dụ tốc độ download của mạng mình đang sử dụng là 28.68 Mbps (tương đương với 3.585 MBps)

Qua bảng trên, chắc chắn bạn đã biết MB và GB cái nào lớn hơn rồi phải không nào?

6. Lời kết

Khái Niệm Dystopia Là Gì Trong Khoa Học Viễn Tưởng?

Ngày: 28/03/2018 lúc 12:00PM

Định nghĩa dystopia

Nguồn gốc từ dystopia

Dystopia là một biến thể của từ utopia. Utopia là phiên âm tiếng Anh của từ οὐτόπος (ou-topos), tức “nơi không tưởng” trong tiếng Hy Lạp, lần đầu sử dụng bởi Thomas More trong tác phẩm cùng tên xuất bản năm 1516. Ban đầu utopia chỉ có nghĩa là “nơi không tồn tại,” nhưng về sau âm ou-(tức “không”) bị lẫn với âm eu-(tức “tốt đẹp”), và utopia trở thành “nơi hoàn hảo.” Dystopia thay tiền tố οὐ-(tức “không tồn tại”) bằng tiền tố δυσ-(tức “xấu xa”), tạo thành từ mang nghĩa “nơi xấu xa,” từ trái nghĩa của utopia. Từ này lần đầu được dùng bởi J. S. Mill trong bài phát biểu quốc hội năm 1868.

Lịch sử ra đời

Năm 1818, nhiều thập niên trước khi từ dystopia xuất hiện, Jeremy Bentham đã đề nghị sử dụng từ cacotopia (dùng tiền tố κακόs-, tức “đồi bại, ghê tởm” để thay cho tiền tố οὐ-) để làm từ trái nghĩa với utopia. Mặc dù sau này dystopia trở nên thịnh hành hơn hẳn, cacotopia vẫn đôi khi được nhắc tới, chẳng hạn như Anthony Burgess, tác giảA Clockwork Orange, đã nói rằng từ Orwell dùng từ này trong 1984 thì hợp hơn vì “nghe nó mạnh hơn dystopia.”

Theo từ điển Oxford, từ dystopia lần đầu tiên được John Stuart Mill dùng trong bài phát biểu trước Hạ Nghị Viện Anh năm 1868. Trong bài nói của mình, Mill lên án chính sách đất đai của chính phủ: “Có lẽ nói chúng nghe như utopia thì hơi quá, chúng phải bị gọi là dys-topia, hoặc caco-topia. Thứ thường được gọi là utopia sẽ quá hoàn hảo để có thể đưa vào thực tế; nhưng những chính sách này quá tệ hại để đưa vào thực tế.”

Chính trị

Trong cuốnWhen the Sleeper Wakes,H. G. Wellsmô tả tầng lớp cai trị là những kẻ ăn chơi hưởng lạc và nông cạn. George Orwell thì ngược với Wells, coi chính quyền tàn ác và nhẫn tâm đến mức cuồng tín như trongThe Iron Heelcủa Jack London là điều nghe khả thi hơn.

Trong utopia, các nguyên tắc chính trị mang màu sắc lý tưởng hoá và mang lại những kết quả tốt đẹp cho người dân. Ở dystopia, các nguyên tắc chính trị đôi khi cũng dựa trên những lý tưởng của utopia, nhưng lại dẫn tới hậu quả tiêu cực cho người dân vì các nguyên tắc ấy có tối thiểu một yếu điểm chết người.

Các tác phẩm dystopia thường vẽ lên bức tranh bi quan về tầng lớp thống trị, hoặc mô tả một chính quyền tàn bạo hoặc vô cảm, thống trị bằng “nắm tay sắt.” Trong các tác phẩm dystopia, thường xuất hiện một nhân vật hoặc nhóm nhân vật “kháng chiến” chống tầng lớp thống trị nhằm thay đổi xã hội, chẳng hạn như nhân vật V trongV for Vendettacủa Alan Moore.

Nhiều tác phẩm dystopia được dùng để chỉ trích chính trị nhưWe, Parable of the Sower, 1984,Đấu trường sinh tử, và451 độ F.

Một trong những mô típ hay xuất hiện nhất là kinh tế dưới quyền kiểm soát tuyệt đối của chính phủ chẳng hạn như trongAnthemcủa Ayn Rand vàThe Iron Standardcủa Henry Kuttner. Một số tác phẩm dystopia khác, chẳng hạn như1984, cho thêm sự xuất hiện của chợ đen để mua bán hàng hoá cấm và/hoặc nguy hiểm, hoặc các nhân vật trong truyện luôn phải sống nơm nớp sợ hãi trong nền kinh tế thiếu tự do. Những hệ thống kinh tế như vậy thường thiếu hiệu quả, gây ra những hậu quả nguy hiểm. Chẳng hạn như trongRiders of the Purple Wagecủa Philip Jose Farmer, một hệ thống an sinh xã hội quá phát triển đã khiến con người không còn bất cứ thứ trách nhiệm nào nữa, và tầng lớp dưới thường xuyên có những hoạt động phá hoại xã hội.Player Pianocủa Kurt Vonnegut mô tả một thế giới dystopia với hệ thống kinh tế tập trung khiến nguyên vật liệu trở nên dồi dào, nhưng đồng thời lại khiến phần lớn loài người không được làm những công việc có ý nghĩa; gần như mọi công việc đều rất hèn mọn, không mang lại giá trị tinh thần, và chỉ một nhóm nhỏ có học thức được đưa vào tầng lớp tinh hoa và thực hiện những công việc tinh hoa.

Một mô típ khác là nền kinh tế tư nhân hoá và chủ nghĩa nghiệp đoàn (corporatism) phát triển quá mạnh mẽ, cả hai đều xuất phát từ chủ nghĩa tư bản. Trong mô típ này, các tập đoàn tư nhân khổng lồ không bị ai kiểm soát gần như đã thay thế chính phủ trong việc đưa chính sách và ra quyết định. Họ thao túng, thâm nhập, điều khiển, hối lộ, không cách này thì cách khác trở thành người kiểm soát đất nước thực sự. Điển hình cho mô típ này là các tác phẩmJennifer GovernmentvàOryx and Crakecùng các phim nhưAlien, Avatar, Robocop, Visioneers, Idiocracy, Soylent Green, THX 1138, WALL‑EvàRollerball. Các khu vực cộng hoà do tập đoàn công nghiệp điều hành xuất hiện rất nhiều trong dòng cyberpunk, chẳng hạn như ở tác phẩmSnow Crashcủa Neal Stephenson vàDo Androids Dream of Electric Sheep?của Philip K. Dick.

Phân hoá xã hội

Các tác phẩm dystopia thường thể hiện sự tương phản giữa các đặc quyền của tầng lớp thống trị và đời sống thê lương của tầng lớp lao động.

Trong tác phẩmBrave New Worlddo Aldous Huxley viết năm 1931, việc phân tầng xã hội được thực hiện ngay từ trước khi con người sinh ra, với các tầng lớp là Alphas, Betas, Gammas, Deltas, và Epsilons. Những tầng lớp cấp thấp bị làm thui chột chức năng não bộ và được điều chỉnh để họ cảm thấy sung sướng với địa vị hiện tại.

Gia đình

Một số tác phẩm dystopia, chẳng hạn nhưBrave New Worldvà451 độ F, đã xoá bỏ hoàn toàn khái niệm gia đình và không ngừng tìm cách ngăn ngừa nó được tái thiết lập. TrongBrave New World, trẻ em được chế tạo trong nhà máy, “ba” và “mẹ” bị coi là những từ tục tĩu. Trong một số tác phẩm khác, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình bị căng thẳng hoá. Chẳng hạn như1984, trẻ em bị bắt phải do thám bố mẹ mình.

Tôn giáo

Tôn giáo vừa được sử dụng dưới vai trò là đối tượng bị áp bức, vừa là kẻ đàn áp. TrongBrave New World, chính quyền yêu cầu chặt bỏ phần đầu mọi cây thánh giá (biểu thượng của đạo Cơ Đốc) để biến chúng thành chữ “T”, (biểu tượng mẫu xe T của Henry Ford). CuốnTruyện người tuỳ nữcủa Margaret Atwood thì lại lấy bối cảnh là nước Mỹ trong tương lai dưới sự cai trị của chế độ thần quyền đạo Cơ Đốc.

TrongDo Androids Dream of Electric Sheep?, con người trên Trái Đất theo đạo Mercer, sử dụng các “hộp cảm thông” để gắn kết với nhau và nâng cao nhân tính của mình, đồng thời thể hiện sự tách biệt với rô-bốt, những tạo vật không có khả năng cảm thông.

Bản ngã

Trong cuốnWedo Yevgeny Zamyatin xuất bản năm 1921, con người chỉ được phép ra nơi công cộng hai lần một tuần, mỗi lần một tiếng và phải gọi nhau bằng số hiệu chứ không phải tên.

Trong một số tác phẩm dystopia, chẳng hạn nhưHarrison Bergeroncủa Kurt Vonnegut, xã hội ép các cá nhân phải tuân theo chủ nghĩa bình đẳng cực đoan, ngăn cấm, cản trở các thành tựu hay thậm chí thể hiện tài năng vì nó sẽ gây ra bất bình đẳng.

Bạo lực

Bạo lực xuất hiện rất nhiều trong các tác phẩm dystopia, nhất là dưới dạng chiến tranh (như1984); các băng đảng tội phạm thành thị (nhưA Clockwork Orange); tội phạm bị một kẻ ngoài vòng pháp luật trừng phạt (nhưMad Max); hoặc các môn thể thao đẫm máu (nhưBattle Royale).Đấu trường sinh tử vàDivergent là hai ví dụ về các tác phẩm dystopia gần đây với đề tài chiến tranh và bạo lực là chủ đạo.

Thiên nhiên

Nhiều tác phẩm dystopia lấy bối cảnh thành thị và cấm các nhân vật tiếp xúc với thế giới tự nhiên. Chẳng hạn như trong451 độ F của Ray Bradbury, đi dạo bị coi là hành vi gây rối xã hội. TrongThat Hideous Strengthcủa C. S. Lewis, chính phủ dùng khoa học để loại bỏ các bản năng hướng về tự nhiên của con người. TrongBrave New World, các giai cấp thấp của xã hội được huấn luyện cho trở nên hãi sợ tự nhiên, nhưng lại muốn đi về các vùng đồng quê chơi thể thao để mua nhiều dụng cụ, dùng phương tiện di chuyển, từ đó kích thích kinh tế.Người truyền ký ứccủa Lois Lowry vẽ lên một xã hội muốn tạo ra utopia bằng cách dùng công nghệ để kiểm soát khí hậu, đồng thời loại bỏ mọi sinh vật không được thuần dưỡng, đồng thời cung cấp thuốc kìm hãm sự phát triển bản năng của con người.

Ô nhiễm nghiêm trọng gây ảnh hưởng đến tự nhiên cũng xuất hiện nhiều trong các tác phẩm dystopia, ví dụ như các phimAvatar, Robocop, Wall-E,vàSoylent Green.The Punishment of Luxurycủa Michael Carson vàRiddley Walkercủa Russell Hoban là những truyện mang thông điệp cảnh tỉnh người đọc hãy bảo vệ môi trường. Trong số đó, quyểnRiddley Walkerlấy bối cảnh là hậu chiến tranh hạt nhân.

Công nghệ:Nếu những tác phẩm utopia coi công nghệ là phát minh có lợi về mọi mặt cho nhân loại, dystopia tập trung chủ yếu vào những ảnh hưởng tiêu cực của công nghệ.

Công nghệ làm bộc lộ và khuyến khích những bản tính xấu xa nhất của con người. Jaron Lanier, một trong những người đi tiên phong trong công nghệ kỹ thuật số, đã trở thành chuyên viên phân tích công nghệ theo hướng dystopia. “Ôi, do máy làm đấy chứ, phải tôi đâu.’ ‘Tàng lớp trung lưu biến mất rồi à? Ôi, phải tôi đâu, do máy làm đấy chứ'” Lanier đưa ra ví dụ.

Công nghệ có những hệ quả không lường được. Trong tác phẩmI Have No Mouth, and I Must Screamcủa Harlan Ellison, một siêu máy tính được tạo ra để giúp con người tiến hành chiến tranh hiệu quả hơn, nhưng rồi đột nhiên siêu máy tính đó trở nên có nhận thức và quay sang huỷ diệt toàn bộ loài người.

Công nghệ mới không thể giải quyết vấn đề của công nghệ cũ, hoặc gây ra nhiều vấn đề hơn.Trong tác phẩmThe Foldcủa Peter Clines, các nhà khoa học phát minh ra hệ thống dịch chuyển tức thời, nhưng hệ thống ấy lại khiến xáo trộn các chiều không gian và tạo ra những vấn đề rất nguy hiểm.

Công nghệ huỷ diệt môi trường.TrongThe Roadcủa Cormac McCarthy, vũ khí hạt nhân đã tàn phá toàn bộ thế giới, và để lại một vùng đất cằn cỗi, nơi con người không thể sinh sống được.

Nếu yêu thích thể loại Sci Fi, chắc chắn bạn sẽ rất ưng bộ combo truyện viễn tưởng siêu hot của Bookism bọn mình.

Bộ Lạc Là Gì ? Khái Niệm Bộ Lạc Trong Triết Học

Bộ lạc là một tập hợp dân cư được tạo thành từ nhiều thị tộc do có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ hôn nhân liên kết với nhau, trong đó có một thị tộc gốc tạo thành bộ lạc gọi là bào tộc . Đặc trưng của bộ lạc là có cùng ngôn ngữ, phong tục tập quán, văn hóa, tín ngưỡng và cùng chung sống …

Bộ lạc là một tập hợp dân cư được tạo thành từ nhiều thị tộc do có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ hôn nhân liên kết với nhau, trong đó có một thị tộc gốc tạo thành bộ lạc gọi là bào tộc.

Đặc trưng của bộ lạc là có cùng ngôn ngữ, phong tục tập quán, văn hóa, tín ngưỡng và cùng chung sống trên một vùng lãnh thổ. Mặc dù chưa thật sự ổn định nhưng việc xác lập chủ quyền về mặt lãnh thổ là đặc trưng mới của bộ lạc so với thị tộc.Bộ lạc có hình thức sở hữu cao hơn thị tộc. Ngoài sở hữu riêng của thị tộc, bộ lạc còn có những sở hữu khác bao gồm vùng lãnh thổ, nơi trồng trọt, săn bắt và chăn nuôi…Lãnh đạo bộ lạc là một hội đồng các tộc trưởng. Trong bộ lạc có một thủ lĩnh tối cao nhưng mọi quyền hành quản lý bộ lạc đều do hội nghị của hội đồng các tộc trưởng và thủ lĩnh quân sự quyết định. Hình thức phát triển cao nhất của bộ lạc là liên minh bộ lạc được hình thành từ sự liên kết nhiều bộ lạc. Trong xã hội nguyên thuỷ, bộ lạc là hình thức tốt nhất để phát triển sản xuất. Chính trong thời kỳ này, công cụ sản xuất bằng kim loại đã được hình thành tạo nên hình thức phân công lao động xã hội đầu tiên giữa trồng trọt và chăn nuôi, nông nghiệp với thủ công nghiệp… Đó là tiền đề khách quan của sự xuất hiện sở hữu tư nhân. Dựa trên sở hữu tư nhân, bộ tộc ra đời thay thế cho hình thức bộ lạc và liên minh các bộ lạc.