Top 16 # Xem Nhiều Nhất Khái Niệm Bộ Luật Hình Sự / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Sieuphampanorama.com

Khái Niệm Tội Phạm Trong Bộ Luật Hình Sự / 2023

Khái niệm tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng nhất của luật hình sự. Chế định tội phạm là chế định trung tâm thể hiện rõ nét bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị, xã hội cũng như pháp lý của luật hình sự ở mỗi nước. Tội phạm là một hiện tượng xã hội, cho nên khái niệm của nó luôn luôn gắn liền với sự phát triển xã hội và ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện. Hiện nay, trong bối cảnh sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999 với một loạt quan điểm mới như bổ sung nguồn của Bộ luật hình sự và trách nhiệm hình sự của pháp nhân… thì việc hoàn thiện quy định về khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự là điều hết sức cần thiết.

1. Tham khảo Luật hình sự của một số nước thế giới

Hiện nay, một số quốc gia trên thế giới có quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự, tuy nhiên cũng có một số quốc gia không đưa khái niệm tội phạm vào Bộ luật hình sự.

Bên cạnh đó, ở một số quốc gia có quy định khái niệm tội phạm trong Luật hình sự và cách thể hiện khái niệm tội phạm cũng có nhiều điểm khác nhau, có những quốc gia chỉ quy định khái niệm tội phạm với dấu hiệu hình thức, có những quốc gia quy định khái niệm tội phạm với dấu hiệu hình thức và dấu hiệu nội dung.

Ngay từ thời kỳ đầu khi xã hội tư sản vừa bước ra khỏi sự hạn chế của chủ nghĩa phong kiến, với tư tưởng đề cao vai trò của tự do dân chủ và bình đẳng, tư tưởng nhà nước pháp quyền thì quan niệm con người được phép làm những gì pháp luật không cấm… được thể hiện rất rõ nét trong khái niệm tội phạm. Do đó, khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự ở một số nước tư sản đã được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau: là hành vi bị đạo luật hình sự cấm hoặc là “vi phạm pháp luật bị Bộ luật hình sự trừng trị” hoặc là “hành vi do luật hình sự cấm bằng nguy cơ xử phạt” … Theo các luật gia tư sản thời kỳ này thì tội phạm là các hành vi do luật hình quy định. Trong khái niệm tội phạm này tính luật định được coi là đặc điểm duy nhất của tội phạm. Thực hiện nguyên tắc “không có tội phạm nếu điều đó không bị cấm trong Bộ luật hình sự”, các luật gia tư sản chứng minh được thế tiến bộ của nước mình trước luật hình phong kiến. Cho tới nay, trong Bộ luật hình sự ở một số nước cũng vẫn quy định tội phạm dưới dạng hình thức là hành vi do Luật định. Cụ thể như: tại Điều 1 BLHS Thụy Điển quy định: ” Tội phạm là hành vi được quy định trong Bộ luật này hoặc luật hoặc các văn bản pháp luật khác và bị áp dụng các hình phạt theo quy định của Luật này “. Điều 10 Bộ luật hình sự Cộng hòa Tây Ban Nha, tội phạm là hành vi bằng hành động hoặc không hành động, có lỗi cố ý hoặc vô ý và bị áp dụng hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự và theo quy định tại Điều 1 Bộ luật hình sự Cộng hòa Thụy Sĩ, chỉ người nào thực hiện hành vi bị Bộ luật hình sự cấm bằng nguy cơ bị áp dụng hình phạt mới phải chịu hình phạt

Hiện nay, cùng với dấu hiệu hình thức, ở một số nước đã đưa dấu hiệu nội dung vào khái niệm tội phạm. Tội phạm không chỉ là hành vi được luật hình quy định mà còn là hành vi chống lại lợi ích xã hội, là hành vi có hại. Các khái niệm tội phạm được quy định trong Luật hình sự thể hiện ở hai dạng: khái niệm đầy đủ và khái niệm tổng quát về tội phạm.

Trong khái niệm này các tác giả đưa ra đầy đủ các dấu hiệu tội phạm. Một số cho rằng “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự do người đến một độ tuổi nhất định có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và vì nó người phạm tội phải bị xử phạt”.

Những người có quan điểm này cho rằng tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ Luật hình sự quy định hay nói cách khác tội phạm có hai đặc tính cơ bản: nội dung là hành vi nguy hiểm cho xã hội và hình thức được Bộ luật hình sự quy định.

Ở cấp độ các bang, hầu hết bộ luật hình sự các bang đều chú ý xây dựng khái niệm tội phạm nói chung, làm cơ sở cho việc quy định các hành vi phạm tội cụ thể. Bộ luật hình sự bang California định nghĩa: ” Tội phạm là hành vi được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động vi phạm các quy định của pháp luật về việc cấm thực hiện hoặc buộc phải thực hiện hành vi và hình phạt được áp dụng có thể là tử hình, tù giam, phạt tiền, buộc thôi việc ở các cơ quan hoặc cấm đảm nhiệm các công việc hoặc thu lợi ở bang này“. Bộ luật hình sự bang Colorado định nghĩa: ” Tội phạm là sự vi phạm bất kì luật nào của liên bang hoặc là xử sự được mô tả bởi chính luật đó mà bằng việc phạm tội có thể bị phạt tiền hay phạt tù“. Bộ luật hình sự bang New York định nghĩa: ” Tội phạm là hành vi gây thiệt hại mà hình phạt đối với người thực hiện là tù giam có thời hạn hoặc phạt tiền được quy định trong các văn bản luật hoặc văn bản dưới luật của bang hoặc được thừa nhận trong các văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền “. Nét đặc trưng là nhà làm luật rất coi trọng yếu tố hình thức và hậu quả pháp lí của tội phạm. Dấu hiệu về “tính chất được quy định trong pháp luật hình sự” và “phải bị xử phạt về hình sự đối với người thực hiện nó” là các dấu hiệu pháp lí chủ yếu của tội phạm

2. Cơ sở lý luận cho việc quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam

Trên cơ sở tham khảo những quy định của Bộ luật hình sự ở một số nước trên, có thể nhận thấy về cơ sở lý luận cho việc quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự cần phải giải quyết vấn đề: có nên quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự hay không? và nếu quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự thì quy định như thế nào?

Rõ ràng, với những ý nghĩa trên của khái niệm tội phạm thì cần thiết phải quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam.

Vấn đề ở đây đây đặt ra nên quy định khái niệm tội phạm theo hướng chỉ quy định dấu hiệu hình thức (được Bộ luật hình sự quy định hay nói cách khác trái pháp luật hình sự) hay bao gồm cả dấu hiệu nội dung (hành vi nguy hiểm cho xã hội) và dấu hiệu hình thức.

Nghiên cứu lịch sử luật hình sự Việt Nam thì lần đầu tiên khái niệm tội phạm đã được chính thức ghi nhận trong văn bản pháp luật ở khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1985. Theo đó, khái niệm tội phạm được quy định: ” Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ kinh tế và sở hữu xã hội chủ nghĩa, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa“. Trong khái niệm đã khẳng định nguyên tắc hành vi, luật hình sự Việt Nam không những không đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tư tưởng của con người mà còn không đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cả những biểu hiện của con người ra ngoài thế giới khách quan nhưng không phải là hành vi. Kế thừa quy định về khái niệm tội phạm ở Bộ luật hình sự năm 1985, khoản 1 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: ” Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, một lần nữa nguyên tắc hành vi lại được khẳng định. Có thể thấy pháp luật hình sự nước ta luôn luôn coi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi là điều kiện đầu tiên, quan trọng nhất để xem xét một hành vi có phải là tội phạm hay không.

Từ những cơ sở trên, có thể thấy việc quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam bao gồm cả dấu hiệu nội dung (tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi) và dấu hiệu hình thức (tính trái pháp luật hình sự) là hết sức cần thiết.

3. Bất cập quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành và đề xuất hoàn thiện

Nghiên cứu từng khoản của Điều 8 Bộ luật hình sự quy định về khái niệm tội phạm có những bất cập sau:

, khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: ” Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”

Như vậy, khái niệm tội phạm dưới dạng khái niệm đầy đủ về tội phạm như một số nước. Phân tích khái niệm trên, ta có thể thấy tội phạm có các đặc điểm: là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi này được quy định trong Bộ luật hình sự, hành vi này phải do người có năng lực trách nhiệm thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý và hành vi xâm hại đến một loạt các khách thể được bảo vệ bởi luật hình sự. Tuy nhiên, một định nghĩa như vậy tương đối dài, không đảm bảo tính ngắn gọn của định nghĩa. Theo Từ điển tiếng việt thì “khái niệm” được hiểu là “ý nghĩ phản ánh ở dạng khái quát các sự vật và hiện tượng của hiện thực và những mối liên hệ giữa chúng”. Do đó đòi hỏi khái niệm phải được diễn đạt ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn thể hiện được những nội dung mang tính bản chất của khái niệm.

Một điểm quan trọng nữa trong nội dung dự thảo sửa đổi Bộ luật hình sự là quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Như vậy, thực hiện hành vi phạm tội ngoài cá nhân ra thì còn pháp nhân thực hiện.

Ngoài ra, trong khái niệm còn thể hiện đặc điểm tội phạm phải do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện. Cần phải khẳng định, năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện cần thiết để có thể xác định một người là có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm hoặc không thực hiện một việc mà luật hình sự quy định phải làm. Như vậy, năng lực trách nhiệm hình sự có mối quan hệ chặt chẽ với lỗi mà tính có lỗi là đặc điểm của tội phạm đã được quy định trong khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999. Theo đó, lỗi được hiểu là: ” Thái độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý “. Là mặt hình thức của lỗi, quan hệ tâm lí ở đây bao gồm yêu tố lí trí và yếu tố ý chí là hai yếu tố cần thiết tạo thành lỗi. Hai yếu tố này – một thể hiện năng lực nhận thức thực tại khách quan, một thể hiện năng lực điều khiển hành vi trên cơ sở của sự nhận thức là những yếu tố tâm lí cần thiết của mọi hành động có ý thức của con người. Nội dung của những yếu tố này cũng chính là những điều kiện bắt buộc để tạo thành năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, khi một người được coi là có lỗi đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình cũng như đối với hậu quả do hành vi đó gây ra thì đương nhiên họ phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, khi tính có lỗi đã được quy định trong khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 là đặc điểm của tội phạm rồi thì nhà làm luật không cần phải quy định tính có năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể vào trong khái niệm này nữa. Quy định như vậy sẽ làm cho nội dung khái niệm của tội phạm trở nên rườm rà và tính khoa học của nó không cao.

Hành vi nguy hiểm cho xã hội tức là hành vi xâm phạm (gây thiệt hại hoặc nguy cơ gây thiệt hại) một hay nhiều khách thể nhất định. Vì vậy cũng có những cách nhìn nhận khác nhau về việc liệt kê khách thể chung của tội phạm. Có ý kiến cho rằng chính bằng cách chỉ ra khách thể chung như chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội…người làm luật đã làm sáng tỏ bản chất giai cấp của luật hình sự, phân biệt khái niệm tội phạm trong luật hình xã hội chủ nghĩa với luật hình các chế độ nhà nước khác. Loại ý kiến thứ hai thì cho rằng người làm luật liệt kê rõ trong định nghĩa về tội phạm khách thể bị xâm hại là đưa ra cơ sở pháp lý để phân biệt tội phạm và các vi phạm pháp luật khác. Còn loại ý kiến khác nữa thì cho rằng các khách thể mà người làm luật đưa ra trong định nghĩa về tội phạm là trật tự các mối quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ tùy theo mức độ quan trọng của nó, và vì vậy nó là cơ sở cho sự phân loại các chương trong Bộ Luật hình sự ở phần các tội phạm.

Những cách nhìn nhận trên đều có những yếu tố hợp lý của nó, nhưng không hoàn toàn chính xác. Nếu theo cách nhìn nhận thứ nhất thì không phải chỉ luật hình sự xã hội chủ nghĩa mới bảo vệ những khách thể như độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, như tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của con người. Quan điểm thứ hai cũng không chính xác. Các quan hệ xã hội mà Bộ luật hình sự nêu ra ở đây không chỉ bị tội phạm xâm hại, các vi phạm pháp luật khác như vi phạm hành chính, gây thiệt hại về dân sự… cũng có thể gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội. Sự khác nhau ở đây chỉ ở chỗ các vi phạm pháp luật này ít nguy hiểm hơn. Nếu theo cách nhìn thứ ba thì chúng ta không hiểu tại sao tại phần các tội phạm, người làm luật lại quy định các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự.. của công dân ngay sau các tội xâm phạm an ninh quốc gia và trước các tội xâm phạm sở hữu.

Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng việc quy định các dấu hiệu tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, tội phạm xâm phạm đến các khách thể được luật hình sự bảo vệ (được liệt kê như khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999) là không cần thiết, mà chỉ cần quy định một cách khái quát khái niệm tội phạm với các đặc điểm: là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi và được quy định trong pháp luật hình sự.

, khoản 2 và khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: ” Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”.

, khoản 4 Điều 8 quy định: ” Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác “. Quy định này là cơ sở để phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác. Bất kỳ một vi phạm pháp luật nào dù ít hay nhiều đều mang tính nguy hiểm cho xã hội nhưng so với tội phạm, tính nguy hiểm của các vi phạm này không đáng kể. Tuy nhiên, quy định này vẫn chưa đầy đủ. Để đánh giá một hành vi có nguy hiểm cho xã hội hay không cần dựa vào hai đặc tính: chất và lượng. Hai đặc tính đó hợp thành tính nguy hiểm của hành vi phạm tội. Đối với tính nguy hiểm của hành vi thì đó là tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Vì vậy, cần thiết sửa khoản 4 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 bằng cách thay tập hợp tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể bằng tập hợp tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể.

Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 thành:

2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác. ”

, ** Giảng viên, trường Đại học Kiểm sát Hà Nội.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 159 – 160.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 160.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 160 – 161.

Xem: Hồ Sỹ Sơn, tlđd, tr 92.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 171.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 168.

Xem: Nguyễn Ngọc Hòa, sđd, tr 20.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 165.

Trường Đại học Luật Hà Nội, sđd, tr 136

Điều 1 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 161 – 163.

Xem: Trương Quang Vinh, tlđd

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 167.

KHÁI NIỆM TỘI PHẠM TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ Phạm Việt Nghĩa**

Khái niệm tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng nhất của luật hình sự. Chế định tội phạm là chế định trung tâm thể hiện rõ nét bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị, xã hội cũng như pháp lý của luật hình sự ở mỗi nước. Tội phạm là một hiện tượng xã hội, cho nên khái niệm của nó luôn luôn gắn liền với sự phát triển xã hội và ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện. Hiện nay, trong bối cảnh sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999 với một loạt quan điểm mới như bổ sung nguồn của Bộ luật hình sự và trách nhiệm hình sự của pháp nhân… thì việc hoàn thiện quy định về khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự là điều hết sức cần thiết.

1. Tham khảo Luật hình sự của một số nước thế giới

Hiện nay, một số quốc gia trên thế giới có quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự, tuy nhiên cũng có một số quốc gia không đưa khái niệm tội phạm vào Bộ luật hình sự.

Bên cạnh đó, ở một số quốc gia có quy định khái niệm tội phạm trong Luật hình sự và cách thể hiện khái niệm tội phạm cũng có nhiều điểm khác nhau, có những quốc gia chỉ quy định khái niệm tội phạm với dấu hiệu hình thức, có những quốc gia quy định khái niệm tội phạm với dấu hiệu hình thức và dấu hiệu nội dung.

Ngay từ thời kỳ đầu khi xã hội tư sản vừa bước ra khỏi sự hạn chế của chủ nghĩa phong kiến, với tư tưởng đề cao vai trò của tự do dân chủ và bình đẳng, tư tưởng nhà nước pháp quyền thì quan niệm con người được phép làm những gì pháp luật không cấm… được thể hiện rất rõ nét trong khái niệm tội phạm. Do đó, khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự ở một số nước tư sản đã được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau: là hành vi bị đạo luật hình sự cấm hoặc là “vi phạm pháp luật bị Bộ luật hình sự trừng trị” hoặc là “hành vi do luật hình sự cấm bằng nguy cơ xử phạt” … Theo các luật gia tư sản thời kỳ này thì tội phạm là các hành vi do luật hình quy định. Trong khái niệm tội phạm này tính luật định được coi là đặc điểm duy nhất của tội phạm. Thực hiện nguyên tắc “không có tội phạm nếu điều đó không bị cấm trong Bộ luật hình sự”, các luật gia tư sản chứng minh được thế tiến bộ của nước mình trước luật hình phong kiến. Cho tới nay, trong Bộ luật hình sự ở một số nước cũng vẫn quy định tội phạm dưới dạng hình thức là hành vi do Luật định. Cụ thể như: tại Điều 1 BLHS Thụy Điển quy định: ” Tội phạm là hành vi được quy định trong Bộ luật này hoặc luật hoặc các văn bản pháp luật khác và bị áp dụng các hình phạt theo quy định của Luật này “. Điều 10 Bộ luật hình sự Cộng hòa Tây Ban Nha, tội phạm là hành vi bằng hành động hoặc không hành động, có lỗi cố ý hoặc vô ý và bị áp dụng hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự và theo quy định tại Điều 1 Bộ luật hình sự Cộng hòa Thụy Sĩ, chỉ người nào thực hiện hành vi bị Bộ luật hình sự cấm bằng nguy cơ bị áp dụng hình phạt mới phải chịu hình phạt

Hiện nay, cùng với dấu hiệu hình thức, ở một số nước đã đưa dấu hiệu nội dung vào khái niệm tội phạm. Tội phạm không chỉ là hành vi được luật hình quy định mà còn là hành vi chống lại lợi ích xã hội, là hành vi có hại. Các khái niệm tội phạm được quy định trong Luật hình sự thể hiện ở hai dạng: khái niệm đầy đủ và khái niệm tổng quát về tội phạm.

Trong khái niệm này các tác giả đưa ra đầy đủ các dấu hiệu tội phạm. Một số cho rằng “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự do người đến một độ tuổi nhất định có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và vì nó người phạm tội phải bị xử phạt”.

Những người có quan điểm này cho rằng tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ Luật hình sự quy định hay nói cách khác tội phạm có hai đặc tính cơ bản: nội dung là hành vi nguy hiểm cho xã hội và hình thức được Bộ luật hình sự quy định.

Ở cấp độ các bang, hầu hết bộ luật hình sự các bang đều chú ý xây dựng khái niệm tội phạm nói chung, làm cơ sở cho việc quy định các hành vi phạm tội cụ thể. Bộ luật hình sự bang California định nghĩa: ” Tội phạm là hành vi được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động vi phạm các quy định của pháp luật về việc cấm thực hiện hoặc buộc phải thực hiện hành vi và hình phạt được áp dụng có thể là tử hình, tù giam, phạt tiền, buộc thôi việc ở các cơ quan hoặc cấm đảm nhiệm các công việc hoặc thu lợi ở bang này“. Bộ luật hình sự bang Colorado định nghĩa: ” Tội phạm là sự vi phạm bất kì luật nào của liên bang hoặc là xử sự được mô tả bởi chính luật đó mà bằng việc phạm tội có thể bị phạt tiền hay phạt tù“. Bộ luật hình sự bang New York định nghĩa: ” Tội phạm là hành vi gây thiệt hại mà hình phạt đối với người thực hiện là tù giam có thời hạn hoặc phạt tiền được quy định trong các văn bản luật hoặc văn bản dưới luật của bang hoặc được thừa nhận trong các văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền “. Nét đặc trưng là nhà làm luật rất coi trọng yếu tố hình thức và hậu quả pháp lí của tội phạm. Dấu hiệu về “tính chất được quy định trong pháp luật hình sự” và “phải bị xử phạt về hình sự đối với người thực hiện nó” là các dấu hiệu pháp lí chủ yếu của tội phạm

2. Cơ sở lý luận cho việc quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam

Trên cơ sở tham khảo những quy định của Bộ luật hình sự ở một số nước trên, có thể nhận thấy về cơ sở lý luận cho việc quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự cần phải giải quyết vấn đề: có nên quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự hay không? và nếu quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự thì quy định như thế nào?

Rõ ràng, với những ý nghĩa trên của khái niệm tội phạm thì cần thiết phải quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam.

Vấn đề ở đây đây đặt ra nên quy định khái niệm tội phạm theo hướng chỉ quy định dấu hiệu hình thức (được Bộ luật hình sự quy định hay nói cách khác trái pháp luật hình sự) hay bao gồm cả dấu hiệu nội dung (hành vi nguy hiểm cho xã hội) và dấu hiệu hình thức.

Nghiên cứu lịch sử luật hình sự Việt Nam thì lần đầu tiên khái niệm tội phạm đã được chính thức ghi nhận trong văn bản pháp luật ở khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1985. Theo đó, khái niệm tội phạm được quy định: ” Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ kinh tế và sở hữu xã hội chủ nghĩa, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa“. Trong khái niệm đã khẳng định nguyên tắc hành vi, luật hình sự Việt Nam không những không đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tư tưởng của con người mà còn không đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cả những biểu hiện của con người ra ngoài thế giới khách quan nhưng không phải là hành vi. Kế thừa quy định về khái niệm tội phạm ở Bộ luật hình sự năm 1985, khoản 1 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: ” Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, một lần nữa nguyên tắc hành vi lại được khẳng định. Có thể thấy pháp luật hình sự nước ta luôn luôn coi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi là điều kiện đầu tiên, quan trọng nhất để xem xét một hành vi có phải là tội phạm hay không.

Từ những cơ sở trên, có thể thấy việc quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam bao gồm cả dấu hiệu nội dung (tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi) và dấu hiệu hình thức (tính trái pháp luật hình sự) là hết sức cần thiết.

3. Bất cập quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành và đề xuất hoàn thiện

Nghiên cứu từng khoản của Điều 8 Bộ luật hình sự quy định về khái niệm tội phạm có những bất cập sau:

, khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: ” Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”

Như vậy, khái niệm tội phạm dưới dạng khái niệm đầy đủ về tội phạm như một số nước. Phân tích khái niệm trên, ta có thể thấy tội phạm có các đặc điểm: là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi này được quy định trong Bộ luật hình sự, hành vi này phải do người có năng lực trách nhiệm thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý và hành vi xâm hại đến một loạt các khách thể được bảo vệ bởi luật hình sự. Tuy nhiên, một định nghĩa như vậy tương đối dài, không đảm bảo tính ngắn gọn của định nghĩa. Theo Từ điển tiếng việt thì “khái niệm” được hiểu là “ý nghĩ phản ánh ở dạng khái quát các sự vật và hiện tượng của hiện thực và những mối liên hệ giữa chúng”. Do đó đòi hỏi khái niệm phải được diễn đạt ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn thể hiện được những nội dung mang tính bản chất của khái niệm.

Một điểm quan trọng nữa trong nội dung dự thảo sửa đổi Bộ luật hình sự là quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Như vậy, thực hiện hành vi phạm tội ngoài cá nhân ra thì còn pháp nhân thực hiện.

Ngoài ra, trong khái niệm còn thể hiện đặc điểm tội phạm phải do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện. Cần phải khẳng định, năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện cần thiết để có thể xác định một người là có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm hoặc không thực hiện một việc mà luật hình sự quy định phải làm. Như vậy, năng lực trách nhiệm hình sự có mối quan hệ chặt chẽ với lỗi mà tính có lỗi là đặc điểm của tội phạm đã được quy định trong khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999. Theo đó, lỗi được hiểu là: ” Thái độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý “. Là mặt hình thức của lỗi, quan hệ tâm lí ở đây bao gồm yêu tố lí trí và yếu tố ý chí là hai yếu tố cần thiết tạo thành lỗi. Hai yếu tố này – một thể hiện năng lực nhận thức thực tại khách quan, một thể hiện năng lực điều khiển hành vi trên cơ sở của sự nhận thức là những yếu tố tâm lí cần thiết của mọi hành động có ý thức của con người. Nội dung của những yếu tố này cũng chính là những điều kiện bắt buộc để tạo thành năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, khi một người được coi là có lỗi đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình cũng như đối với hậu quả do hành vi đó gây ra thì đương nhiên họ phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, khi tính có lỗi đã được quy định trong khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 là đặc điểm của tội phạm rồi thì nhà làm luật không cần phải quy định tính có năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể vào trong khái niệm này nữa. Quy định như vậy sẽ làm cho nội dung khái niệm của tội phạm trở nên rườm rà và tính khoa học của nó không cao.

Hành vi nguy hiểm cho xã hội tức là hành vi xâm phạm (gây thiệt hại hoặc nguy cơ gây thiệt hại) một hay nhiều khách thể nhất định. Vì vậy cũng có những cách nhìn nhận khác nhau về việc liệt kê khách thể chung của tội phạm. Có ý kiến cho rằng chính bằng cách chỉ ra khách thể chung như chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội…người làm luật đã làm sáng tỏ bản chất giai cấp của luật hình sự, phân biệt khái niệm tội phạm trong luật hình xã hội chủ nghĩa với luật hình các chế độ nhà nước khác. Loại ý kiến thứ hai thì cho rằng người làm luật liệt kê rõ trong định nghĩa về tội phạm khách thể bị xâm hại là đưa ra cơ sở pháp lý để phân biệt tội phạm và các vi phạm pháp luật khác. Còn loại ý kiến khác nữa thì cho rằng các khách thể mà người làm luật đưa ra trong định nghĩa về tội phạm là trật tự các mối quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ tùy theo mức độ quan trọng của nó, và vì vậy nó là cơ sở cho sự phân loại các chương trong Bộ Luật hình sự ở phần các tội phạm.

Những cách nhìn nhận trên đều có những yếu tố hợp lý của nó, nhưng không hoàn toàn chính xác. Nếu theo cách nhìn nhận thứ nhất thì không phải chỉ luật hình sự xã hội chủ nghĩa mới bảo vệ những khách thể như độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, như tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của con người. Quan điểm thứ hai cũng không chính xác. Các quan hệ xã hội mà Bộ luật hình sự nêu ra ở đây không chỉ bị tội phạm xâm hại, các vi phạm pháp luật khác như vi phạm hành chính, gây thiệt hại về dân sự… cũng có thể gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội. Sự khác nhau ở đây chỉ ở chỗ các vi phạm pháp luật này ít nguy hiểm hơn. Nếu theo cách nhìn thứ ba thì chúng ta không hiểu tại sao tại phần các tội phạm, người làm luật lại quy định các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự.. của công dân ngay sau các tội xâm phạm an ninh quốc gia và trước các tội xâm phạm sở hữu.

Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng việc quy định các dấu hiệu tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, tội phạm xâm phạm đến các khách thể được luật hình sự bảo vệ (được liệt kê như khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999) là không cần thiết, mà chỉ cần quy định một cách khái quát khái niệm tội phạm với các đặc điểm: là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi và được quy định trong pháp luật hình sự.

, khoản 2 và khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: ” Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”.

, khoản 4 Điều 8 quy định: ” Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác “. Quy định này là cơ sở để phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác. Bất kỳ một vi phạm pháp luật nào dù ít hay nhiều đều mang tính nguy hiểm cho xã hội nhưng so với tội phạm, tính nguy hiểm của các vi phạm này không đáng kể. Tuy nhiên, quy định này vẫn chưa đầy đủ. Để đánh giá một hành vi có nguy hiểm cho xã hội hay không cần dựa vào hai đặc tính: chất và lượng. Hai đặc tính đó hợp thành tính nguy hiểm của hành vi phạm tội. Đối với tính nguy hiểm của hành vi thì đó là tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Vì vậy, cần thiết sửa khoản 4 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 bằng cách thay tập hợp tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể bằng tập hợp tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể.

Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 thành:

2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác. ”

Nguồn: Tạp chí Nhà nước và pháp luật – Viện Hàn lâm khoa học Xã hội Việt Nam

(số 2(322)/2015)

, ** Giảng viên, trường Đại học Kiểm sát Hà Nội.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 159 – 160.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 160.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 160 – 161.

Xem: Hồ Sỹ Sơn, tlđd, tr 92.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 171.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 168.

Xem: Nguyễn Ngọc Hòa, sđd, tr 20.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 165.

Trường Đại học Luật Hà Nội, sđd, tr 136

Điều 1 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 161 – 163.

Xem: Trương Quang Vinh, tlđd

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 167.

Khái Niệm Hình Phạt Theo Quy Định Của Bộ Luật Hình Sự / 2023

Khái niệm hình phạt được quy định tại Điều 26 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Hình phạt trong pháp luật hình sự Việt Nam bao gồm hai nhóm: hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Hình phạt chính là hình phạt có thể được tuyên độc lập và với mỗi tội phạm chỉ áp dụng một hình phạt chính. Hình phạt bổ sung là hình phạt được tuyên cùng hình phạt chính và có thể áp dụng đồng thời nhiều hình phạt bổ sung cùng lúc.

Khái niệm hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự

Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là “Bộ luật Hình sự”) đưa ra Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại khái niệm hình phạt như sau: ” phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.”

Hình phạt có những đặc trưng cơ bản sau:

-Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước. Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta, có nhiều biện pháp cưỡng chế như xử phạt hành chính, buộc bồi thường thiệt hại về tài sản, xử lý kỷ luật. So với các biện pháp cưỡng chế khác thì chỉ có hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, vì: hình phạt đánh vào lợi ích kinh tế, hình phạt hạn chế hoặc tước bỏ quyền tự do thân thể, hình phạt được ghi vào lai lịch tư pháp, cá biệt hình phạt còn loại bỏ quyền được sống của người phạm tội..v.v

-Hình phạt chỉ được áp dụng với người phạm tội. Quy định này vừa thể hiện trong Điều 26 về khái niệm hình phạt vừa thể hiện tính nguyên tắc cơ sở trách nhiệm hình sự (Điều 2 Bộ luật Hình sự): “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Luật Hình sự Việt Nam chỉ cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội chỉ người nào phạm tội người ấy mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy định này thể hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa của pháp Luật Hình sự Việt Nam, thể hiện mục đích áp dụng hình phạt là giáo dục, cải tạo người phạm tội để họ trở thành người lương thiện có ích cho xã hội.

– Hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Toà án quyết định áp dụng bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người phạm tội. Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự đều khẳng định Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chỉ có Toà án mới có quyền xét xử và ra bản án hình sự bằng hình phạt. Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự, bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, chính xác, khách quan, bảo đảm không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Quy định này thể hiện tính kiên quyết, thận trọng của Nhà nước trong đấu tranh chống tội phạm đồng thời bảo đảm lợi ích chính đáng của công dân, và thể hiện sự thống nhất giữa tội phạm và hình phạt. Tội phạm là cơ sở phải chịu hình phạt, ngược lại hình phạt là hậu quả pháp lý của tội phạm nhằm trừng trị vào giáo dục người phạm tội, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng chống tội phạm.

Hình phạt bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Trong đó, hình phạt chính bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình; hình phạt bổ sung bao gồm: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú, cấm cư trú, quản chế, phạt tiền (khi không được áp dụng là hình phạt chính), trục xuất (khi không được áp dụng là hình phạt chính), tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản. Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

Hình phạt được đặt ra không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Phạm vi hành nghề của luật sư trong lĩnh vực hình sự:

Bài viết thực hiện bởi: Luật sư Nguyễn Duy Hội – Trưởng chi nhánh Hà Nội của Công ty Luật TNHH Everest

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

Bài viết trong lĩnh vực hình sự (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các luật sư, chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Khái Niệm Tội Phạm Về Chức Vụ Theo Bộ Luật Hình Sự / 2023

Tội phạm về chức vụ quy định tại Chương XXIII Bộ luật hình sự là các tội phạm có cùng tính chất xâm phạm đến khách thể loại là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức.

Căn cứ pháp lý về khái niệm tội phạm về chức vụ

Theo quy định tại điều 352, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về khái niệm tội phạm về chức vụ như sau:

“(1) Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tố chức do người có chức vụ thực hiện trong khỉ thực hiện công vụ, nhiệm vụ. (2) Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”.

Khái niệm tội phạm về chức vụ

Điều 352 đã quy định khái quát khái niệm tội phạm về chức vụ quy định tại Chương XXIII Bộ luật hình sự. Đây là một nhóm tội phạm có cùng tính chất xâm phạm đến khách thể loại là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức.

Các tội ở chương XXIII xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan tổ chức bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị xã hội, tổ chức xã hộ và các tổ chức kinh tế.

Một trong nhưng yêu cầu đối với các hoạt động của cơ quan trên là phải đảm bảo đúng pháp luật. Nhưng các tội phạm có chức vụ được thực hiện đã làm cho hoạt động của các cơ quan, tổ chức trái pháp luật, ngược lại với đòi hỏi của pháp luật từ đó ảnh hưởng hưởng đến uy tín của cơ quan, tổ chức, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Cơ quan tổ chức ở đây là cơ quan trong bộ máy nhà nước, các cơ quan khác trong hệ thống chính trị như các cơ quan của các tổ chức chính trị, chính trị xã hội như: Đảng Cộng sản, Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ, Hội cựu Chiến binh, Hội Nông dân; các cơ quan thuộc tổ chức xã hội như Hội Người mù, Hội chữ thập đỏ; các tổ chức kinh tế như các doanh nghiệp…

Để xâm phạm đến khách thể là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, tuyệt đại đa số các chủ thể của các tội phạm về chức vụ là chủ thể đặc biệt tức là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan tổ chức (trừ 3 tội Đưa hối lộ (Điều 364), Môi giới hối lộ (Điều 365 BLHS) và tội Lợi dụng ảnh hưởng với người có chức vụ để trục lợi (Điều 366) là có chủ thể thường.

Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ.

So sánh với khái niệm tội phạm chức vụ tại Bộ luật hình sự năm 1999

So với Bộ luật hình sự năm 1999, Bộ luật hình sự năm 2015 đã mở rộng nội hàm khái niệm tội phạm chức vụ. Trước đây, Bộ luật hình sự năm 1999 chỉ giới hạn đối với các hành vi trong khu vực công (do cán bộ, công chức nhà nước thực hiện), mà chưa có sự ghi nhận về tội phạm tham nhũng trong khu vực tư, bao gồm cả các tội phạm về chức vụ trong khu vực tư (ngoài Nhà nước).

Bộ luật hình sự năm 2015 đã có sự điều chỉnh kịp thời, mở rộng chủ thể thực hiện tội phạm không chỉ là người có chức vụ trong khi thực hiện “công vụ” (đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống các cơ quan Nhà nước), mà còn là người có chức vụ trong khi thực hiện “nhiệm vụ” (tại các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước).

Điều này xuất phát trên các căn cứ:

– Do tính chất nghiêm trọng và mức độ ảnh hưởng ngày càng lan rộng của tham nhũng trong khu vực tư, trong bôi cảnh hội nhập, yêu câu phải tăng cường mạnh mẽ các biện pháp đấu tranh chống tham nhũng không chỉ trong lĩnh vực công mà trong cả lĩnh vực tư, bảo đảm sự tương thích với Công ước chống tham nhũng (UNCAC) mà Việt Nam là thành viên.

– Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta cho thấy các hành vi tham nhũng có xu hướng không chỉ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn mà có sự tham gia của cá nhân, tổ chức ở ngoài khu vực nhà nước dưới nhiều hình thức…

Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự năm 1999 chưa có các quy định pháp luật cần thiết áp dụng cho hành vi phạm tội của các chủ thể này.

Các tội phạm về chức vụ quy định tại Chương XXIII Bộ luật hình sự năm 2015 chia làm hai nhóm: Các tội phạm tham nhũng và các tội phạm khác về chức vụ (không tính chất tham nhũng).

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

Bài viết trong lĩnh vực hình sự (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Khái Niệm Luật Tố Tụng Hình Sự / 2023

a, Đối tượng điều chỉnh của Luật tố tụng hình sự

Để đảm bảo cho việc phát hiện, xác định tội phạm và người phạm tội được chính xác, xử lý nghiêm minh, không để lọt tội phạm, không làm oan sai người vô tội, đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

Khi tiếp nhận được tin tức về tội phạm, hoặc phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, xác minh và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu xác định có dấu hiệu của tội phạm. Sau đó tiến hành các hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ để chứng minh tội phạm và người phạm tội, hoàn thành hồ sơ vụ án và chuyển sang Viện kiểm sát cùng với bản kết luận điều tra, nếu có đủ chứng cứ để xác định tội và người phạm tội,… Khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, tuỳ từng trường hợp Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định như trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án hay truy tố bị can trước Toà án bằng bản cáo trạng. Toà án nghiên cứu hồ sơ và ra quyết định cần thiết để giải quyết vụ án hoặc đưa vụ án ra xét xử và quyết định bị cáo có tội hay không có tội bằng một bản án.

Sau khi xét xử Toà án ra bản án tuyên bố bị cáo có tội hoặc không có tội và các quyết định khác. Bản án và quyết định của Toà án đã có hiệu lực phải được thi hành và được các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân tôn trọng. Tất cả các quá trình từ khởi tố đến điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự đều phải tuân theo các trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định.

Như vậy, tố tụng hình sự là trình tự, thủ tục tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật. Tố tụng hình sự, bao gồm toàn bộ hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng của cá nhân, cơ quan nhà nước khác và tổ chức xã hội góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của luật tố tụng hình sự.

Trong quá trình tiến hành giải quyết vụ án hình sự, giữa cơ quan tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng phát sinh mối quan hệ nhất định. Ví dụ: để thu thập chứng cứ của vụ án, cơ quan điều tra phải tiến hành các hoạt động hỏi cung bị can, lấy lời khai của người làm chứng nên phát sinh mỗi quan hệ giữa cơ quan điều tra với bị can, với người làm chứng,… đó là những quan hệ xã hội được ngành luật tố tụng hình sự điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh của Luật tố tụng hình sự là những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi án hình sự.

b, Phương pháp điều chỉnh của Luật tố tụng hình sự

Luật tố tụng hình sự Việt Nam sử dụng hai phương pháp để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đó là: phương pháp quyền uy và phương pháp phối hợp – chế ước.

Phương pháp quyền uy thể hiện ở quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng với những người tham gia tố tụng. Các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có tính chất bắt buộc đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân.

Phương pháp phối hợp – chế ước điều chỉnh mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án. Các cơ quan này có nhiệm vụ phối hợp với nhau tiến hành các hoạt động của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

c, Định nghĩa Luật tố tụng hình sự

Luật tố tụng hình sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.