Top 21 # Xem Nhiều Nhất Khái Niệm Văn Hóa Và Môi Trường / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Sieuphampanorama.com

Bàn Về Khái Niệm Đời Sống Văn Hóa Và Môi Trường Văn Hóa / 2023

Tin tức – Sự kiện / Nghiên cứu trao đổi

Bàn về khái niệm đời sống văn hóa và môi trường văn hóa

Qua phân tích các văn bản định hướng của Đảng và ý kiến của một số nhà nghiên cứu, bài viết đưa ra thời điểm xuất hiện và quan niệm về các cụm từ đời sống văn hóa, môi trường văn hóa. Nội hàm môi trường văn hoá rộng hơn đời sống văn hoá. Đời sống văn hoá đề cập đến những điều kiện, những hành vi văn hoá của con người xuất phát từ nhu cầu đặt ra trong từng hoàn cảnh cụ thể của đời sống. Môi trường văn hoá đề cao vai trò chủ động của con người trong các mối quan hệ ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Xây dựng đời sống văn hoá là một nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng nằm trong chiến lược xây dựng môi trường văn hoá. Môi trường văn hoá bao gồm các yếu tố văn hoá vật thể, văn hoá phi vật thể, môi trường tự nhiên và trên hết là những con người hiện diện văn hoá.

Những năm gần đây, trong nhiều bài viết, giới nghiên cứu văn hoá có nói tới hai cụm từ đời sống văn hoá và môi trường văn hoá. Nội hàm hai cụm từ trên như thế nào đang là vấn đề đặt ra, cần sự thống nhất về nhận thức, đồng thời làm rõ sự khác biệt của hai cụm từ trên chính là tạo sự thuận lợi cho nhận thức và hành động trong triển khai xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở.

thái độ ứng xử với cái cũ, cái mới trong đời sống của nhân dân một cách hợp tình, hợp lý: ” Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết. Không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ… Cái gì cũ mà không xấu, nhưng nhiều phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý… Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm… Cái gì mới mà hay, thì phải làm…“.

Trong bối cảnh trình độ học vấn của dân ta còn thấp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng từ “mới” thay cho từ “văn hoá” để cho dân dễ hiểu về xây dựng đời sống văn hoá. Có thể coi Đời sống mới là bài viết đầu tiên đặt cơ sở lý luận cho việc xây dựng đời sống văn hóa ra đời sau Cách mạng Tháng Tám 1945. Cho mãi tới những năm 80 của thế kỷ XX, trong chỉ đạo xây dựng đời sống văn hoá, Đảng, Nhà nước vẫn sử dụng từ “mới” được hiểu là kết tinh hàm lượng văn hoá, tri thức, cách tổ chức, giá trị mới trong xây dựng nếp sống, nền văn hoá và con người. Ví dụ ngày 15/1/1975, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 214/CT-TW về việc thực hiện nếp sống mới trong việc cưới, việc tang, ngày giỗ, ngày hội. Văn kiện Đại hội IV (1976) của Đảng: “Ra sức xây dựng nền văn hoá mới, từng bước xây dựng nước ta thành một xã hội văn hóa cao”. Năm 1980, Ban Chỉ đạo Nếp sống mới Trung ương được thành lập ở các cấp để chỉ đạo vận động xây dựng nếp sống mới, gia đình văn hoá mới.

Cụm từ đời sống văn hoá xuất hiện trong văn kiện của Đảng từ Đại hội IV, đoạn viết: “Hết sức quan tâm tổ chức tốt đời sống văn hoá (tác giả nhấn mạnh) ở các vùng kinh tế mới, các nông trường, lâm trường, công trường ở các vùng dân

tộc, ở miền núi và hải đảo”. Đến Đại hội V (1982), Đảng ta xác định rõ hơn nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hoá, nhất là đời sống văn hoá ở cơ sở, coi đó là một chủ trương quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong xây dựng văn hoá và con người: Sau Đại hội V, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở trở thành một phong trào phát triển sâu rộng trên địa bàn dân cư, đơn vị sản xuất, công tác, học tập tác động trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức và nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo văn hoá trong đời sống của mọi tầng lớp nhân dân. Từ đó, khái niệm về đời sống văn hoá ngày một sáng tỏ. Năm 1987, cuốn sách Năm 2007, cuốn “ Một nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng và văn hóa là đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hằng ngày của nhân dân. Đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, đảm bảo mỗi nhà máy, công trường, lâm trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã, phường ấp, đều có đời sống văn hóa”. Đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Namđã luận giải: “Đời sống văn hoá chính là những hành vi sống biểu hiện một trình độ văn hoá, bao gồm các hoạt động của xã hội, của tập thể, của từng cá nhân, nhằm mục đích văn hóa hoá tức là hoàn thiện con người”. Năm 2000, cuốn Giáo trình Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng đưa ra khái niệm: “Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó). Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng cho rằng đời sống văn hoá bao gồm 4 yếu tố: văn hoá vật thể và phi vật thể; cảnh quan văn hoá; văn hoá cá nhân; văn hoá của các “tế bào” trong mỗi cộng đồng, từ đó đưa ra khái niệm: “Đời sống văn hoá là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể những yếu tố hoạt động văn hoá vật chất và tinh thần, những tác động qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hoá trong cộng đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người”.

Con người sinh ra và trưởng thành, muốn cho đời sống cá nhân được phong phú, lành mạnh thì tất yếu người đó có quan hệ đến:

– Đời sống vật chất: đảm bảo yếu tố cho người đó sinh tồn.

– Đời sống tinh thần: nhằm thỏa mãn nhu cầu ý thức về tình cảm, lý trí, nghị lực, tư tưởng của người đó.

– Đời sống xã hội: xã hội hình thành nhân cách con người. Bản thân mỗi người đều muốn sống với cộng đồng, thông qua cộng đồng để chứng minh, khẳng định phẩm chất, năng lực của mình và hoàn thiện bản thân.

Đời sống văn hóa có thể hiểu đó là tất cả những hoạt động của con người tác động vào đời sống vật chất, đời sống tinh thần, đời sống xã hội để hướng con người vươn lên theo qui luật của cái đúng, cái đẹp, cái tốt, của chuẩn mực giá trị chân, thiện, mĩ, đào thải những biểu hiện tiêu cực tha hoá con người. Đời sống văn hóa là quá trình diễn ra sự trao đổi thông qua các hoạt động văn hóa nhằm nâng cao chất lượng sống của con người. Đó là quá trình các yếu tố văn hóa mà con người tiếp thu được tác động vào đời sống vật chất để con người biến đổi môi trường tự nhiên tạo lập môi trường nhân văn, làm ra được nhiều sản phẩm vật chất cho xã hội; tác động vào đời sống tinh thần để con người thỏa mãn nhu cầu chủ quan đáp ứng các yêu cầu về tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống; tác động vào đời sống xã hội để xây dựng một hệ thống các giá trị chuẩn mực xã hội; tác động vào chính bản thân đời sống cá nhân, điều chỉnh hành vi ứng xử của cá nhân và cho cá nhân phương thức lựa chọn hướng đi tốt nhất cho chính cuộc đời mình.

Đời sống văn hóa bao giờ cũng có tính kế thừa. Kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp của các thế hệ đi trước tạo ra sự ổn định và tiền đề khẳng định những giá trị mới.

Đời sống văn hóa bao giờ cũng có tính đổi mới, bởi lẽ con người luôn luôn có khát vọng vươn lên cái tốt đẹp, chỉ có mạnh dạn sáng tạo, mạnh dạn cải đổi mới mong đáp ứng nhu cầu càng cao về vật chất và tinh thần của con người.

Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi cho rằng: Đời sống văn hóa là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo các sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống của chính con người.

do A.I. Ác-môn-đốp chủ biên, dịch từ tiếng Nga và được Nhà xuất bản Văn hoá xuất bản đưa ra quan niệm: ” Cơ sở lý luận văn hoá Mác – Lênin Môi trường văn hoá là một tổng thể ổn định những yếu tố vật thể và nhân cách, nhờ đó các cá thể tác động lẫn nhau. Chúng ảnh hưởng tới hoạt động khai thác và sáng tạo giá trị văn hoá, tới nhu cầu tinh thần, hứng thú và định hướng giá trị của họ. Môi trường văn hoá không chỉ là tổng hợp những yếu tố văn hoá vật thể mà còn có những con người hiện diện văn hoá“.

Quan niệm trên chỉ cho rõ hai thành tố quan trọng của môi trường văn hoá:

1. Những yếu tố vật thể (vật thể tự nhiên và vật thể nhân tạo).

2. Nhân cách (có thể hiểu là hành vi văn hoá biểu hiện ở cộng đồng người và cá thể người).

Hai thành tố này ảnh hưởng đến quá trình sáng tạo, hưởng thụ, phổ biến các giá trị văn hoá và ý chí vươn lên của con người hướng tới chuẩn mực giá trị nhất định.

Ở một góc nhìn khác, tác giả Đỗ Huy cho rằng ” Môi trường văn hoá chính là môi trường nhân hóa” và từ góc nhìn giá trị học nhấn mạnh vai trò của con người: ” Môi trường văn hoá chính là sự vận động của các quan hệ của con người trong các quá trình sáng tạo, tái tạo, đánh giá, lưu giữ và hưởng thụ các sản phẩm vật chất và tinh thần của mình“.

Từ định hướng trong văn kiện Đại hội VIII của Đảng và từ thực tiễn sinh động của các phong trào văn hóa những năm đầu 90 (thế kỷ XX): phong trào xây dựng gia đình văn hóa; làng, bản, ấp văn hóa; khu dân cư tiên tiến; môi trường văn hóa trong quân đội…, Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (1998) đã đề ra 10 nhiệm vụ cơ bản xây dựng nền văn hóa Việt Nam, xếp nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa ở vị trí thứ hai sau nhiệm vụ xây dựng con người. Nghị quyết đặt ra mục tiêu của việc xây dựng môi trường văn hóa là: ” Tạo ra ở các đơn vị cơ sở (gia đình, làng, bản, xã, phường, khu tập thể, cơ quan, xí nghiệp, nông trường, lâm trường, trường học, đơn vị bộ đội…), các vùng dân cư (đô thị, nông thôn, miền núi…) đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng những nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân“. Đồng thời Nghị quyết trên cũng chỉ ra những vấn đề quan tâm cụ thể của xây dựng môi trường văn hóa là: “Giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Nêu cao vai

trò gương mẫu của các bậc cha mẹ. Coi trọng xây dựng gia đình văn hóa. Xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa, nâng cao tính tự quản của cộng đồng dân cư trong công cuộc xây dựng nếp sống văn minh. Thu hẹp dần khoảng cách đời sống văn hóa giữa các trung tâm đô thị và nông thôn, giữa những vùng kinh tế phát triển với các vùng sâu, vùng xa, vùng núi, biên giới, hải đảo, giữa các tầng lớp nhân dân.

Phát triển và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa ở cơ sở; đầu tư xây dựng một số công trình văn hóa trọng điểm tầm quốc gia. Tăng cường hoạt động của các tổ chức văn hóa, nghệ thuật chuyên nghiệp, phát triển phong trào quần chúng hoạt động văn hóa, nghệ thuật “.

– Xây dựng đời sống văn hoá ở các đơn vị cơ sở

– Xây dựng gia đình, cộng đồng dân cư văn hoá

– Xây dựng nếp sống văn minh

– Xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hoá.

– Đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức, phong trào văn hoá, văn nghệ.

Nội dung nêu trên chưa làm rõ thành tố nhân cách và môi trường tự nhiên trong xây dựng môi trường văn hoá. Những thiếu sót này đã được bổ sung trong nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh nêu trong Nghị quyết Trung ương 9, khoá XI về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước (2014). Đảng ta đã tiếp thu lý luận về phát triển bền vững của tổ chức UNESCO, bao gồm 3 trụ cột cơ bản: kinh tế bền vững, xã hội bền vững và môi trường bền vững hướng tới mục tiêu làm cho con người phát triển toàn diện. Nghị quyết Trung ương 9 đã nêu hẳn một quan điểm chỉ đạo: “Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng” và trong nội dung xây dựng môi trường văn hóa đã nhấn mạnh vấn đề nhân cách văn hóa, bảo vệ môi trường tự nhiên: “Mỗi địa phương, cộng đồng, cơ quan, đơn vị, tổ chức phải là một môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần giáo dục, rèn luyện con người về nhân cách, lối sống. Gắn kết xây dựng môi trường văn hóa với bảo vệ môi trường sinh thái. Đưa nội dung giáo dục đạo đức con người, đạo đức công dân vào các hoạt động giáo dục của xã hội.

Thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam, xây dựng gia đình thực sự là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách văn hóa và giáo dục nếp sống cho con người. Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh. Xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hóa tiêu biểu, có nền nếp, ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau. Xây dựng mỗi trường học phải thực sự là một trung tâm văn hóa giáo dục, rèn luyện con người về lý tưởng, phẩm chất, nhân cách, lối sống; giáo dục truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ”.

Như vậy, thông qua việc khảo sát các văn bản thể hiện quan điểm của Đảng về môi trường văn hoá, có thể nhận ra rằng tư duy của Đảng về môi trường văn hoá ngày một sáng rõ. Nội hàm môi trường văn hoá rộng hơn đời sống văn hoá. Đời sống văn hoá đề cập đến những điều kiện, những hành vi văn hoá của con người xuất phát từ nhu cầu đặt ra trong từng hoàn cảnh cụ thể của đời sống, nhằm thoả mãn khát vọng hưởng thụ và sáng tạo văn hoá. Môi trường văn hoá đề cao vai trò chủ động của con người với tư cách là sản phẩm của văn hoá đồng thời là chủ thể sáng tạo văn hoá trong các mối quan hệ ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, tạo sự ổn định, phát triển, hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ, không ngừng cải thiện, nâng cao chất lượng sống của con người. Xây dựng đời sống văn hoá là một nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng nằm trong chiến lược xây dựng môi trường văn hoá. Môi trường văn hoá bao gồm các yếu tố văn hoá vật thể, văn hoá phi vật thể, môi trường tự nhiên và trên hết là những con người hiện diện văn hoá.

Tóm lại , môi trường văn hoá được hiểu với nghĩa rộng nhất của nó là sự hiện hữu các yếu tố văn hoá vật thể, phi vật thể do con người tái tạo ra; sự hiện hữu của cả những yếu tố vật thể tự nhiên bao quanh con người, trở thành khung cảnh và điều kiện tồn tại của con người; sự hiện diện của các nhân cách văn hóa trong không gian, thời gian xác định, quan hệ, tác động lẫn nhau hướng con người tới những chuẩn mực giá trị xã hội./.

Về Môi Trường Văn Hóa Và Môi Trường Văn Hóa Ở Việt Nam / 2023

Bài viết Ý nghĩa của việc đặt vấn đề về môi trường văn hóa đề cập đến hai nội dung cơ bản: một số thành quả và vấn đề đặt ra từ việc nghiên cứu chủ nghĩa duy vật biện chứng ở Việt Nam hiện nay. Theo tác giả, việc sử dụng lý thuyết môi trường văn hoá là một cách kiến giải mới, một phương án tư duy mới về những vấn đề quen thuộc. Đặc biệt, tác giả đã sử dụng lượng thông tin rất phong phú để lý giải môi trường văn hoá Việt Nam từ các phương diện: tư tưởng – lý luận, kinh tế xã hội, đời sống tinh thần xã hội. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra kết luận rằng, nét chủ đạo của môi trường văn hoá Việt Nam hiện nay là tốt đẹp và lành mạnh.

Nói đến môi trường, vấn đề môi trường hay bảo vệ môi trường, người ta thường hiểu đó là môi trường tự nhiên. Thành thử, tất cả các định nghĩa đã có về môi trường đều là định nghĩa khái niệm môi trường tự nhiên. Nhưng khi đùng khái niệm môi trường trong lĩnh vực phát triển xã hội và xây dựng con người, nghĩa là khi phân tích ảnh hưởng của môi trường đến đời sống của các chủ thể, như cá nhân, nhóm, cộng đồng, đặc biệt khi gắn với các đặc trưng xã hội và nhân cách, người ta lại thấy thiếu hụt nếu không coi toàn bộ đời sống xã hội phong phú và phức tạp bên ngoài (các chủ thể đó) như là môi trường có ảnh hưởng và thường quy định, thậm chí quyết định diện mạo của mỗi chủ thể. Cá nhân nào cũng ít nhiều là sản phẩm của một xã hội cụ thể, nghĩa là được tạo ra từ một hệ thống, một cơ chế cụ thể. Xã hội nào cũng để dấu ấn của mình lên đời sống cá nhân, dù là đấu ấn tích cực hay dấu ấn tiêu cực. Trong những trường hợp như vậy, khái niệm môi trường xã hội xuất hiện, và môi trường văn hóa là khái niệm đặc biệt của môi trường xã hội. Khái niệm môi trường văn hóa được dùng với nghĩa rộng nhất, bao gồm toàn bộ đời sống con người xét về phương diện văn hóa, nghĩa là gần trùng với khái niệm môi trường xã hội về mặt phạm vi, chỉ khác khía cạnh xem xét là văn hóa, chứ không phải là ở các mặt khác. Rất ít khi môi trường văn hóa chỉ được hiểu là gồm các hoạt động thuần túy văn hóa. Trong khi đó, các khái niệm khác thuộc môi trường xã hội lại được sử dụng theo nghĩa hẹp hơn và có phần chặt chẽ hơn, chẳng hạn, môi trường pháp lý, môi trường kinh tế, môi trường giáo dục, môi trường đạo đức…

Đây là điểm cần lưu ý khi sử dụng khái niệm môi trường văn hóa. Trên thực tế, môi trường văn hóa là công cụ lý thuyết khá hữu hiệu để xem xét điều kiện bên, ngoài làm nên sự hình thành hay tha hóa nhân cách, sự phát triển hay thụt lùi của cá nhân, sự tiến bộ hay lạc hậu của nhóm xã hội hoặc cộng đồng.

Theo chúng tôi, khi đời sống con người với các mặt: phong tục, tập quán, lối sống, đạo đức, pháp quyền, dân trí, tính năng động xã hội… được xem là điều kiện, cơ sở cho sự hình thành nhân cách, phát triển cá nhân, phát triển nhóm hoặc cộng đồng xã hội… thì đó chính là môi trường văn hóa. Như vậy, những nội dung cần phải quan tâm khi đặt vấn đề về môi trường văn hóa (như vừa kể trên) hầu hết là những nội dung quen thuộc. Bởi lẽ, cái đóng vai trò là điều kiện, là cơ sở, là môi trường cho sự hình thành nhân cách, phát triển cá nhân, phát triển nhóm hoặc cộng đồng chắc chắn là cái mà mỗi xã hội từ lâu đều đã phải quan tâm giải quyết. Tuy vậy, chúng tôi cũng cho rằng, môi trường văn hóa là khái niệm chỉ mới được sử dụng phổ biến trong những năm gần đây, là một trong những vấn đề mới, nảy sinh trong đời sống xã hội hiện đại.

Việc đặt vấn đề môi trường văn hóa như một công cụ lý thuyết có ý nghĩa của nó. Nếu môi trường tự nhiên là tập hợp các yếu tố bên ngoài hệ thông xã hội – con người làm thành điều kiện cần cho hệ thống đó tồn tại và phát triển, thì môi trường văn hóa là tập hợp các yếu tố bên trong hệ thông xã hội – con người làm thành điều kiện đủ cho mỗi tiểu hệ thống của hệ thống đó tồn tại và phát triển.

Điểm cất lõi của việc đặt vấn đề về môi trường văn hóa là ở chỗ, trong sự phát triển năng động và phong phú của đời sống con người, môi trường văn hóa có ảnh hưởng như thế nào, quy đinh những gì và cá quyết định đến đâu đối với hành vi, thái độ và ý thức của mỗi người và cộng đồng: tại sao người Việt Nam vốn được đánh giá là thông minh, năng động, sáng tạo, nhưng lại ít có những phát kiến lớn? Tại sao tiềm năng trí tuệ ở người Việt được khẳng định từ lâu đến nay phần lớn vẫn chỉ là tiềm năng? Tại sao không ít cái hay, cái tốt tiếp thu từ bên ngoài lại trở thành vô đụng hoặc bị méo mó khi triển khai trong thực tế. Tại sao có những giai đoạn nảy sinh nhiều tác phẩm văn chương nghệ thuật giá trị, trong khi có những giai đoạn, dù người ta đầu tư và hy vọng rất nhiều nhưng vẫn vắng bóng những tác phẩm như mong muốn?… Lý thuyết môi trường văn hóa cần tham gia giải quyết những câu hỏi đó.

Một chiều khác của vấn đề này là, nếu như môi trường văn hóa có ảnh hưởng lớn đến mỗi người và cộng đồng, thì ngược lại, mỗi người và cộng đồng có khả năng và trách nhiệm đến đâu trong việc tạo ra môi trường văn hóa bình thường (hay lý tưởng) cho sự phát triển của xã hội nói chung và sự phát triển tự do của môi cá nhân nói riêng? Đành rằng, hệ thống nào, cơ chế nào thì cá nhân ấy, nhưng chẳng lẽ cá nhân chỉ thuần túy là sản phẩm thụ động của cơ chế. Trên thực tế, vai trò cá nhân có ý nghĩa rất lớn đối với việc cải tạo hoặc thay đổi môi trường văn hóa. Khả năng làm thay đổi hệ thống và cơ chế, làm thay đổi môi trường văn hóa bên ngoài chủ thể luôn là điều mà lý thuyết về môi trường văn hóa cần phải hướng tới.

Về môi trường văn hóa ở Việt Nam

Như vậy, tuy những nội dung chi tiết của vấn đề môi trường văn hóa có thể không mới, nhưng việc sử dụng lý thuyết môi trường văn hóa rõ ràng là một cách kiến giải mới, một phương án tư duy mới về những vấn đề quen thuộc. Và, ý nghĩa của việc đặt vấn đề về môi trường văn hóa chính là ở đây.

Cho đến nay, trong khoa học xã hội Việt Nam, gần như chưa có một nghiên cứu nào thật toàn diện và đủ sâu sắc để xác định và đánh giá thực trạng toàn bộ môi trường văn hóa ở Việt Nam giai đoạn hiện nay. Những tác phẩm, bài viết đã công bố thường không có trách nhiệm phải đi tới một kết luận bài bản về hệ thống môi trường văn hóa hiện có, nên những gì đã nói thường không tránh khỏi những phân tích cảm nhận, những đánh giá cục bộ, hoặc những phác thảo có phần chủ quan khi nhân tiện bàn đến những vấn đề văn hóa – xã hội. Trong tình trạng chung như vậy, bài viết này cũng chưa vượt ra ngoài khuôn khổ của những hạn chế vừa nêu.

Về phương diện tư tưởng – lý luận

Trên cơ sở nghiên cứu và chứng kiến sự phát triển của đời sống văn hóa – xã hội đất nước những năm gần đây, chúng tôi xin cố gắng gợi mở một cái nhìn tổng thể về môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay. Ở bình diện chung nhất, chúng tôi cho rằng, trong bối cảnh toàn cầu hóa, kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, chưa bao giờ môi trường văn hóa ở Việt Nam lại phong phú, phức tạp và có nhiều tiềm ẩn như hiện nay. Đó là hệ thông những hiện tượng và quan hệ văn hóa – xã hội đa dạng, đa chiều và năng động, đủ đê nuôi dưỡng mọi ý tưởng tốt đẹp khích lệ mọi lợi thế trong phát kiến, sáng tạo, nhưng cũng đủ thách thức và cám dỗ khiên cho bất cứ cá nhân, gia đình, cộng đồng nào cũng cũng phải cảnh giác trước nguy cơ lạc lối hoặc sai lầm. Có thể giải chi tiết hơn về nhận định này như sau:

Trong khi khẳng định giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, ở Việt Nam, luận thuyết của M.Weber về văn hóa đóng vai trò là nhân tố quyết định từ bề sâu cấu trúc xã hội, lý luận của A. Toffler về các làn sóng văn minh, quan điểm UNDP và của T. de Chardin về con người là trung tâm của sự phát triển kinh tế xã hội, quan điểm của K.Popper về xã hội mở, quan điểm của S.Huntington về sự đụng độ của các nền văn minh, lý thuyết của M.Mohamad về vai trò của các giá trị Châu Á trong sự phát triển xã hội hiện đại, quan niệm của T.Friedman về thế giới phẳng và toàn cầu hóa… không xa lạ đối với giới nghiên cứu nói riêng và trí thức nói chung. Một vài lý thuyết trước kia bị e ngại, thậm chí đôi khi bị cố tình lãng quên, nay đã có thể tìm được vị trí của mình trong đời sống tinh thần xã hội. Những hiện tượng mới trong lý luận thế giới, như quan điểm về kinh tế tri thức, các quan niệm về toàn cầu hóa, quan điểm về phát triển con người và bộ công cụ HDI, về môi trường và phát triển bền vững, về vốn con người và vốn xã hội… đã nhanh chóng được phổ biến, tiếp thu và nghiên cứu ứng dụng ở Việt Nam. Một số tác phẩm được coi là “hiện tượng” đối với thế giới như cuốn Hồi ký. Nhìn lại quá khứ, tấn thảm kịch và bài học về Việt Nam của R.Mcnamara (1995), Thế giới phẳng của T.Friedman (2006), hay một số ấn phẩm có giá trị của Ngân hàng thế giới, của UNDP, của UNESCO… được xuất bản bằng tiếng Việt gần như đồng thời (trong cùng một năm) với bản gốc. Chúng tôi muốn nói rằng, đây là một hiện tượng mới của đời sống tinh thần xã hội ở Việt Nam, mà không phải ở đâu cũng cập nhật được như thế. Bên cạnh việc phổ cập các chương trình truyền hình quốc tế, các thông tin trên mạng Internet, các sản phẩm nghe nhìn từ các phương tiện truyền thông đại chúng khác, việc đa dạng hóa, cập nhật hóa các thông tin trong đời sống lý luận có ý nghĩa đặc biệt đối với môi trường văn hóa nói chung.

Về phương diện kinh tế – xã hội:

Dĩ nhiên, vẫn có những vùng cấm và dòng thông tin không phải lúc nào cũng thông suốt như nó phải thế. Điều này có lý do khách quan của nó. Điều đáng ngại hơn nằm ở chỗ khác: môi trường văn hóa về lĩnh vực này tuy phong phú, da dạng, đa chiều nhưng mới chỉ ở trình độ hạn chế. Tất cả các lý thuyết kể trên đều chưa được xã hội biết đến một cách sâu sắc. Ngay ở các Trường Đại học và các viện nghiên cứu cũng rất hiếm những chuyên gia thực sự tầm cỡ hay những trung tâm có uy tín về các lý thuyết, quan điểm nói trên. Đây là điều còn non yếu, bất cập của khu vực lý luận, làm ảnh hưởng đến trình độ của đời sống tinh thần xã hội và trình độ của môi trường văn hóa nói chung.

Về phương điện đời sống tinh thần xã hội:

Cơ sở kinh tế như vừa nói là đầu mối của một môi trường văn hóa đa dạng và phức tạp mà các nhà nghiên cứu còn cần nhiều công sức hơn nữa để mổ xẻ.

Chúng tôi muốn đề cập đến trạng tinh thần chủ đạo của xã hội khi nhìn nhận và đánh giá sự phát triển của đất nước, xin tạm gọi là tâm thế phát triển hay cảm hứng phát triển, một hiện tượng mới xuất hiện gần đây khi đất nước đã ra khỏi giai đoạn khủng hoảng, đạt được những thành tựu “to lớn và có ý nghĩa” sau hơn 20 năm đổi mới, đang đứng trước những vận hội mới, mà nhiều người thường gọi là “thời cơ vàng” của sự phát triển, khiến mỗi thành viên xã hội ít nhiều đều buộc phải bày tỏ thái độ. Theo chúng tôi, tâm thế phát triển của xã hội hiện nay chủ yếu là tích cực, nhưng vẫn có luồng ý kiến trái ngược với nó. Trước hết, xin được nói về luồng tâm thế hoài nghi, lo lắng và đôi khi bi quan về sự phát triển.

Dù không chiếm đa số, nhưng vẫn có một cái nhìn hoài nghi, bi quan ở một người, đáng chú ý là trong đó có những chuyên gia, những nhà hoạt động xã hội lo ngại Việt Nam sẽ tụt hậu xa hơn so với thế giới và các nước trong khu vực. Ở mức độ nhẹ nhàng hơn, một vài tác giả nghi ngơ lập luận của những người khẳng định “thời cơ vàng” của sự phát triển.

Chẳng hạn, theo tính toán của một số chuyên gia IMF, GDP/đầu người của Việt Nam năm 2005 là 552 USD. Nếu đặt giả thiết, các nước thu nhập cao hơn ở ASEAN ngừng phát triển và Việt Nam vẫn cứ tăng trưởng như hiện nay, thì cũng phải mất 5 năm Việt Nam mới đuổi kịp Indonesia và Philippines, 20 năm để đuổi kịp Thái Lan, 24 năm để đuổi kịp Malaysia, 38 năm để đuổi kịp Brunei và 40 năm để đuổi kịp Singapore. Còn nếu các nước ASEAN chỉ cần vẫn cứ tăng trưởng với tỷ lệ như 10 năm qua, Việt Nam sẽ mất 18 năm để đuổi kịp Indonesia, 34 năm để đuổi kịp Thái Lan và 197 năm để đuổi kịp Singapore. Mặc dù đây là con số so sánh thuần tuý “cơ học” và xã hội phát triển dĩ nhiên không máy móc như thế, nhưng sự so sánh này dẫu sao vẫn có ý nghĩa cảnh báo đáng suy ngẫm.

Có ý kiến khác lại cho rằng, với khoản đầu tư nước ngoài vào Việt Nam như hiện nay, đáng ra nền kinh tế phải tăng trưởng cao hơn 7 – 8%/năm. Sự tăng trưởng hiện có chỉ là tăng trưởng ảo chứ chưa phải là phát triển. Đó là “ảo giác tăng trưởng”. Nếu ảo giác này không phải chỉ là sản phẩm của sự tưởng tượng, thì rõ ràng khó tránh khỏi nó sẽ dẫn đến tình trạng tụt hậu ngày càng xa hơn.

Không thể nói thái độ bi quan hoặc lo lắng cho môi trường văn hóa như vừa nêu là thiếu cơ sở. Nếu chỉ nhìn vào những hiện tượng đó người ta buộc phải nghi ngờ hẹn tương lai có chắc chắn tất đẹp hơn. Tuy nhiên, nhìn từ một phía khác, tâm thế phát triển chủ đạo của xã hội ngày nay lại đúng là tâm thế tích cực, lạc quan. Và đây là môi trường văn hóa đặc biệt quan trọng. Không thể phủ nhận “tâm thế phát triển”, cảm hứng phát triển” ở Việt Nam, hơn lúc nào hết, hiện đang biểu lộ đặc biệt năng động. Năm 2006, với những thành tựu phát triển ấn tượng, cùng một loạt sự kiện quốc gia có ý nghĩa, vị thế của Việt Nam đã được hầu hết các nước, các tổ chức quốc tế đánh giá tích cực. Không khí hồ hởi, tin ở tương lai là không khí chủ đạo ở đa số các tầng lớp cư dân.

Rất nhiều người nhìn thời điểm hiện nay như là cơ hội có một không hai, là “cơ hội vàng” cho sự cất cánh của đất nước và sự thành đạt của mỗi gia đình, cộng đồng. Tâm thế này là hệ quả nảy sinh từ sự phát triển hiện thực của đất nước, nó đang nhận được sự cổ vũ bởi cái nhìn thiện cảm và tích cực từ bên ngoài. Chẳng hạn, K.Rohland, đại diện WB tại Việt Nam, cho rằng, “Việt Nam là câu chuyện về một thành công lớn. Có thể khẳng định, ngoài Trung Quốc, Việt Nam là nền kinh tế phát triển thành công nhất thế giới. Đáng chú ý hơn là Việt Nam đạt được kết quả này khi chưa trở thành thành viên của WTO”.

M.Lachlan, phó Đại sứ Anh, sau nhiều năm làm việc tại Hà Nội đã coi điều mà ông ấn tượng nhất là: “Người Việt Nam có tinh thần học hỏi ghê gớm”. Theo ông, nhiều nước Châu Âu và Châu Á muốn hợp tác với Việt Nam là vì điểm này.

Địch Côn, nhà nghiên cứu thuộc Viện Quan hệ quốc tế Trung Quốc cho “Việt Nam trở thành cường quốc ở Đông Nam Á chỉ còn là vấn đề thời gian”. Về nguyên nhân, theo Địch Côn, Việt Nam hiện nay có ba ưu thế: Thứ nhất, có mô hình phát triển phù hợp, Thứ hai, có chính trị và xã hội ổn định, thứ ba, dân tộc Việt Nam có chí tiến thủ mạnh mẽ với 82 triệu dân mà kết cấu dân số lại có đến 2/3 là những “con hổ non – những người trẻ tuổi”. Do vậy, ông nhận xét: “Có thể thăng, có thể trầm, nhưng với lòng tự tôn mạnh, Việt Nam sẽ không chịu thấp kém”.

Ngay cả Tổng thống chúng tôi cũng đã sử dụng hình ảnh Con hổ Châu Á để nói về Việt Nam. Khi tham dự Hội nghị APEC Hà Nội diễn ra hồi tháng 11/2006, chúng tôi nhận định: Việt Nam “là một con hổ trẻ” (young tiger) và tôi rất ấn tượng về sự phát triển này. Điều chúng tôi muốn lưu ý là ngay cả sau sự kiện tiêu cực ở PMU 18 cái nhìn thiện cảm của người nước ngoài, đối với sự phát triển của Việt Nam cũng không vì thế mà suy giảm. H.Benn, Bộ trưởng Bộ Phát triển quốc tế Vương quốc Anh , người có quan điểm cứng rắn trong việc gắn viện trợ với chống tham nhũng, cũng phải thừa nhận rằng, Việt Nam đã làm được nhiều việc đáng ngạc nhiên, nhất là xóa đói giảm nghèo, cải thiện cuộc sống cho người dân. Chính điều đó đã khiến ông quyết định ký một Viện trợ hợp tác với Việt Nam vào trung tuần tháng 9/2006. Rỡ ràng, không phải tất cả mọi lời khen của các chính trị gia, các học giả nước ngoài đều là “ngoại giao”, đều là kém căn cứ.

Thêm một chỉ báo nữa có thể được chọn làm căn cứ đánh giá môi trường văn hóa ở Việt Nam: Giữa năm 2006, NEF, một tổ chức nghiên cứu xã hội có uy tín ở Anh, đã đánh giá chỉ số hạnh phúc (HPI) của 178 nước trên thế giới tính đến thời điểm đó. Điều thú vị là, NEF đã đo đạc và xếp Việt Nam đứng thứ 12 trong số 178 nước với chỉ số hạnh phúc tổng hợp là 61,2, trên cả Trung Quốc (31/178), Thái Lan (33/178), Italia (66/178), Nhật Bản (95/178), Mỹ (108/178) và hơn 160 nước khác. Theo chỉ số này, hạnh phúc của mỗi cộng đồng được đo bằng số năm trong vôn tuổi thọ mà con người cảm thấy hài lòng với cuộc sông của mình trên cơ sở tính toán điều này có phù hợp với điều kiện tài nguyên tự nhiên được phép tiêu dùng hay không. Nghĩa là, hanh phúc không nhất thiết đi liền với mức độ giàu – nghèo, hay trình độ phát triển – kém phát triển, hạnh phúc trước hết là mức độ con người hài lòng với cuộc sống của mình.

Cách xếp hạng trên có thể phải bàn luận thêm. Nhưng, ở đây, trên bình diện môi trường văn hóa, chúng tôi muốn khai thác kết quả nghiên cứu của NEF về mức độ hài lòng của người Việt Nam với cuộc sống hiện tại của mình. 61,2 % cư dân Việt Nam thừa nhận là hạnh phúc, nghĩa là hài lòng với cuộc sống hiện tại, theo chúng tôi, là con số có thể tin được. Con số này cũng trở nên quý giá hơn nếu lưu ý, mức lý tưởng trong điều kiện hiện nay là quốc gia nào đó có 83,5% chứ không phải 100% cư dân hài lòng với cuộc sống của mình (nước xếp thứ 1/178 về chỉ số hạnh phúc là quốc đảo Vanuatu, nhưng chỉ số cũng mới chỉ là 68,2, còn xa mới đạt tới 83,5).

Cuối cùng, một chỉ báo khác, tuy phạm vi và thời gian khái quát có hẹp hơn so với quy trình nghiên cứu chỉ số hạnh phúc của NEF, nhưng cũng hoàn toàn xứng đáng được chọn làm căn cứ đánh giá môi trường văn hóa ở Việt Nam: cuối năm 2006, Viện Gallup International (GIA, một tổ chức nghiên cứu xã hội học nổi tiếng) đã khảo sát mức độ lạc quan và bi quan của dân chúng tại 53 nước trên thế giới. Kết quả là người Việt Nam hoá ra dẫn đầu thế giới về mức độ tin tưởng vào tương lai. Trong gần 49.000 người tại 53 nước được hỏi, chỉ có 43% tin rằng tương lai sẽ tốt đẹp hơn, trong đó, Việt Nam: 94% tin tưởng vào tương lai, Hồng Kông: 74%, Trung Quốc: 73%, Ghana: 68%, Nigeria: 66%, Thái Lan: 53%, Singapore: 52%. Những nước có số người bi quan nhiều nhất khi nhìn về tương lai là ấn Độ: 32%, Indonesia: 33%, Philippines: 84%, Iraq: 43%, và Hi Lạp: 44%.

Dĩ nhiên, những nghiên cứu nói trên không phải đã tuyệt đối thuyết phục và khi nghe người bên ngoài ca ngợi Việt Nam hạnh phúc hay lạc quan nhất thế giới, thì cũng không ai quên Việt Nam vẫn mới chỉ là nước có GDP thấp và nhiều mặt còn cách các nước trong khu vực khá xa. Nhưng, chính điều đó lại càng làm cho việc đánh giá tâm thế phát triển ở Việt Nam trở nên có ý nghĩa hơn.

Chưa bao giờ môi trường văn hóa ở Việt Nam lại phong phú và đa dạng, lại năng động và tích cực, lại khích lệ và cám đỗ, lại có nhiều cơ hội và thách thức… như hiện nay. Có thể nói như vậy với thái độ hoàn toàn nghiêm túc và khách quan. Mức độ phong phú và đa dạng, nhịp điệu năng động và tích cực của môi trường văn hóa Việt Nam hiện đã đủ để nuôi dưỡng mọi ý tưởng tất đẹp, khích lệ mọi lợi thế trong phát kiến, sáng tạo. Nhưng mặt khác, mặt trái của nó cũng là những thách thức khiến bất cứ cá nhân, gia đình, cộng đồng nào cũng phải cảnh giác.

Sẽ là cực kỳ nguy hiểm nếu chỉ nhìn sự phát triền của xã hội Việt Nam ngày nay với con mắt lạc quan đến mức mất cảnh giác cho rằng, không nhân tố tiêu cực nào có thể cản trở hoặc làm hỏng sự phát triển xã hội. Trong điều kiện toàn cầu hóa, người ta buộc phải tính đến tình trạng ung nhọt, đôi khi có thể tiêu hủy cả một thể. Thế giới ngày nay rất dễ bị thương đổ vỡ, hoặc bùng nổ vì những nguyên nhân có thể chỉ là bất ngờ hoặc không tất yếu Việt Nam, dĩ nhiên, không nằm ngoài trật tự chung đó.

Cuối cùng, cũng sẽ là thiển cận hoặc không sáng suốt nếu chỉ nhìn sự phát triển của xã hội Việt ngày nay với con mắt thuần túy bi quan. Môi trường văn hóa Việt hiện có không ít nhân tố tiêu cực và không bình thường, thậm chí rất không bình thường. Song nếu biết khống chế một cách sáng suốt, thì phần lớn những điều bất bình thường và những nhân tố tiêu cực đó, nhiều lắm cũng chỉ đến mức là cái bệnh tất nhiên hay khó tránh của một cơ thể đang phát triển.

Khi nhìn môi trường văn hóa Việt Nam qua lăng kính tâm thế phát triển của đại đa số cư dân, qua đánh giá tích cực và có thiện cảm của những chuyên gia nước ngoài, qua số liệu về mức độ lạc quan, hay qua chỉ số hạnh phúc của Việt Nam mà thế giới đã đo đạc và công bố, chúng ta phải thừa nhận rằng, nét chủ đạo của môi trường văn hóa Việt Nam hiện nay là tốt đẹp và lành mạnh, chứ không phải ngược lại.

Mối Quan Hệ Giữa Văn Hóa Và Môi Trường / 2023

1. Khái niệm

Cho đến nay, đã có tới hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hoá (định nghĩa theo triết học, định nghĩa theo dân tộc học, nhân học, tâm lý học và xã hội học…), điều đó có nghĩa rằng, xuất phát từ những thực tiễn khác nhau, tuỳ mục đích sử dụng khác nhau mà người ta đưa ra hoặc lựa chọn một định nghĩa nào đó để tiện cho diễn giải và thao tác.

Ở đây, chúng ta đang bàn về mối quan hệ giữa văn hoá và môi trường nên tôi lựa chọn một khái niệm văn hoá theo quan điểm của nhân học.

Khái niệm văn hoá của Tylor trong cuốn ” Văn hoá nguyên thuỷ” tuy ra đời cách đây đã lâu (1871), nhưng nó là một khái niệm mang tính kinh điển và vẫn hữu dụng trong nghiên cứu nhân học văn hoá nói chung và nhân học môi trường nói riêng: “Một toàn thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, luân lý, luật pháp, phong tục và tất thảy những năng lực khác nhau và những tập quán khác nhau mà con người hoạch đắc với tư cách là thành viên của xã hội”; hay như định nghĩa của Malinowski cũng vậy: “Văn hóa bao gồm các quá trình kế thừa về kỹ thuật, tư tưởng, tập quán và giá trị”

Như thế, tri thức và tư tưởng là những thành tố quan trọng bậc nhất của văn hoá. Các hành vi hay các khuôn mẫu ứng xử của con người – ở một phương diện nào đó- là bị chi phối (hệ quả) của tri thức/ tư tưởng và là sự biểu thị (representation) những tri thức/ tư tưởng đó. Nhờ đó, văn hoá đóng vai trò như là cách thức để người ta có thể giao tiếp với nhau và với thế giới xung quanh. Thế mà, tri thức/ tư tưởng của con người ở mỗi một xã hội, mỗi một thời kỳ là không giống nhau, thậm chí có lúc có nơi bị coi là đối lập nhau (ví dụ: Hệ tư tưởng vô thần và hệ tư tưởng hữu thần). Do đó, văn hoá tuỳ theo mỗi xã hội, tuỳ theo từng thời đại được biểu thị theo những cách rất khác nhau.

Xin lấy một ví dụ: ở các xã hội nguyên thuỷ (bán khai), khi hạn hán người ta dùng những biện pháp ma thuật để cầu mưa (ví dụ trò pháo đất của Việt Nam ) thì các hành vi ma thuật ấy là biểu thị văn hoá, bởi nó được kết tinh và là hệ quả trực tiếp của thế giới quan “vạn vật hữu linh” (animism); Đến thời trung cổ, khi thế giới quan tôn giáo chiếm vị thế chủ đạo (độc thần luận- Monotheism) thì người ta lại cầu mưa bằng những nghi lễ tôn giáo; Còn trong xã hội công nghiệp hiện đại thì sao? với thế giới quan khoa học, với hệ thống tư tưởng thực nghiệm con người sử dụng khoa học- công nghệ để tác động vào giới tự nhiên, như bắn tên lửa gây mưa cho những vùng hạn hán… Có thể lấy nhiều ví dụ khác nữa như việc chữa bệnh…

Văn hoá, bên cạnh thành tố tư tưởng, còn bao gồm hàng loạt những hệ thống hành vi, ứng xử của con người đối với nhau và đối với tự nhiên (cách thức sản xuất, tôn giáo, phong tục tập quán, nghệ thuật…). Những hệ thống ứng xử này là những tín hiệu mang tính biểu trưng. Tuy nhiên, không phải ở đâu, lúc nào các hình thái biểu trưng này cũng giống nhau mà tuỳ theo hệ tư tưởng về bản thể luận (ontology), vũ trụ luận (cosmology) của từng xã hội, từng thời kỳ mà cách thức biểu tượng hoá và ý nghĩa của các khuôn mẫu ứng xử ấy có sự khác nhau. Lấy ví dụ về phong tục tang lễ chẳng hạn: Cùng là ứng xử với người thân trong gia đình đã chết thì người Bahna ở Tây Nguyên có phong tục bỏ mả, còn người Việt thì lại có phong tục thờ cúng tổ tiên;

Mặt khác, các hình thái biểu tượng còn phụ thuộc vào môi trường sống của từng xã hội, từng thời kỳ (có thể là chất liệu, có thể là cách thức hành động mà con người cần phải làm để thích nghi với môi trường sống). Vì thế mới có các nền văn hoá khác nhau như nền văn hoá du mục, nền văn hoá lúa nước, nền văn hoá sa mạc và nền văn hoá băng đảo…

Đây cũng là một khái niệm trừu tượng mà con người (ở vào thời kỳ muộn, chứ không phải có ngay từ buổi bình minh của loài người) phải đưa vào trong ngôn ngữ của mình để tư duy và nhận thức. Một cách thông thường, môi trường ( Umwelt- tiếng Đức) chỉ một thực tế khách quan tồn tại bên ngoài , bao quanh con người và nhờ vào đó mà con người tồn tại và phát triển được.

Về khái niệm môi trường, T. Ingold- một nhà nhân học hiện đại người Mỹ- đã lưu ý như sau: môi trường là một thuật ngữ mang tính tương đối, tương đối ở khía cạnh nó là môi trường của ai. Vì thế, môi trường của tôi chỉ có ý nghĩa khi có quan hệ với tôi, và trong ý nghĩa này môi trường chỉ tồn tại và trải qua sự phát triển của tôi và xung quanh tôi.Và điều quan trọng hơn để giải thích tại sao thuật ngữ môi trường cũng mang tính tương đối là do: Cũng hệt như khái niệm văn hoá, nó bị phụ thuộc bởi tư tưởng về thế giới quan (đóng vai trò chủ đạo trong cấu trúc của một nền văn hoá ) của xã hội con người đang hiểu và định nghĩa về nó. Thật vậy, khái niệm môi trường có thể là một sự kiến tạo mang tính văn hoá về tự nhiên, nhưng cũng có thể lại là sự áp đặt một lớp ý nghĩa nào đó của người trong cuộc lên trên một thực thể khách quan độc lập nào đó.

Chẳng hạn: chúng ta quá quen với quan niệm về môi trường của khoa học duy lý phương Tây, cho rằng tất cả những gì tồn tại khách quan xung quanh ta, tác động đến sự sống và phát triển của ta đều là những thành tố của môi trường. Môi trường đó được con người quan niệm như là khách thể, có thể cấu trúc hoá nó được và có thể tái tạo và kiến tạo được- đúng như cách làm của các nhà khoa học hoá học, sinh học hay vật lý học. Nhưng những con người ở những xã hội mà chúng ta thường gọi là man dã, bán khai hay nguyên thuỷ thì lại có những suy nghĩ khác về môi trường. Trong những xã hội như thế này, con người có một cách nhìn thế giới xung quanh họ hoàn toàn khác.

Trường hợp những xã hội theo “vạn vật hữu linh” chẳng hạn, họ không hề quan niệm những gì xung quanh họ (cỏ cây, gỗ đá, ma quỷ, thần hay sấm chớp mưa giông là khác với họ. Tất cả đều có linh hồn và giữa chúng với con người có thể diễn ra quá trình giao tiếp. Họ sẽ giải thích những nguyên nhân gây ra một hiện tượng không hay nào đó của môi trường (hạn hán chẳng hạn) theo cách của họ chứ không phải theo sự đo đạc về khí quyển như các nhà khoa học của xã hội hiện đại của chúng ta. Chẳng hạn họ sẽ gán vào hiện tượng này một lớp ý nghĩa như: Long vương bị say rượu, quên đi tưới nước cho nhân gian, hay như ở ta có chuyện “Con cóc là cậu ông trời” ….

Vì thế, sẽ chẳng có gì là ngạc nhiên khi những ứng xử của con người ở xã hội này đối với thế giới xung quanh (mà ngày nay chúng ta gọi là những ứng xử với môi trường như săn thú, chặt cây, hay nhờ vả các ma. thần) như là họ ứng xử chính với những người đồng loại. Nói chung về nguyên tắc thì đây là những ứng xử “có đi có lại”. (Lấy ví dụ những lời cúng của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, hay những lời khấn hay nghi lễ khi họ giết súc vật, hay chặt cây rừng…)

Do quan niệm về môi trường khác nhau như vậy, nhận thức, thái độ và hành vi của những con người ở các nền văn hoá khác nhau đối với môi trường cũng khác nhau. Ví dụ về việc săn tuần lộc của T. Ingold.

Khi đuổi theo tuần lộc, có một hiện tượng đáng chú ý: Khi một con biết được sự xuất hiện của bạn, nó làm động tác rất lạ là, thay vì chạy trốn nó đứng lại và quay đầu nhìn chăm chăm vào mặt bạn. các nhà sinh học giải thích hiện tượng này như một sự thích nghi của tuần lộc trước những chú sói săn mồi. Khi con tuần lộc dừng lại, con sói đuổi theo nó cũng dừng lại theo, cả hai thở lấy hơi cho cuộc rượt đuổi quyết định cuối cùng. Và khi con tuần lộc chạy như bay, con sói cũng tăng tốc độ để chộp lấy con mồi. Do con tuần lộc là con vật chủ động phá thế bế tắc nên nó ngẩng cao đầu lên và thực tế một số con tuần lộc trưởng thành có thể chạy thoát những chú sói. Nhưng, mẹo giúp nó tránh được những con sói kể trên lại mang lại nhiều bất lợi khi chúng đối diện với người thợ săn được trang bị vũ khí, có thẻ bắn. Khi con vật quay đầu lại thì nó sẽ đem đến cho người thợ săn cơ hội tốt nhất để ngắm và bắn. Đối với con sói thì tuần lộc là loài dễ tìm vì chúng đi theo đàn nhưng lại khó có thể giết chúng một cách dễ dàng. Ngược lại, đối với con người thì tuần lộc là loại khó tìm nhưng khi đã tìm thấy rồi thì các thợ săn không hề gặp khó khăn trong việc hạ gục chúng.

Thợ săn bản địa người Cree ở vùng đông- bắc Canada lại có cách giải thích khác nguyên nhân tại sao những chú tuần lộc lại dễ dàng bị giết chết như vậy. Họ cho rằng bản thân các con vật tự nộp mình cho các thợ săn một cách có chủ định và có thiện ý hay thậm chí là yêu thương đối với người thợ săn. Thân xác của con tuần lộc không bị mang đi mà nó được “nhận” (bởi người thợ săn). Và chính trong thời khắc của sự đối mặt- khi con vật dừng lại và nhìn vào mắt người thợ săn-thì sự hiến tặng này được diễn ra. Giống như nhiều cư dân săn bắn khác trên thế giới, người Cree vẽ ra một sự tương đồng giữa việc rượt đuổi các con thú với sự hấp dẫn của các cô gái trẻ, và so sánh sự giết chóc với quan hệ tình dục. Theo nghĩa này sự giết chóc hiện hữu không như là một sự kết thức của cuộc sống mà giống như một hành động có vai trò quan trọng trong sự tái sinh cuộc sống.

2. Mối quan hệ giữa văn hoá và môi trường

2.1. Văn hoá được quy định bởi môi trường

Những dấu ấn của mối quan hệ ấy trong buổi sơ khai của loài người vẫn còn được nhận thấy trong văn hoá ăn, ở và mặc của con người trong xã hội ngày nay: Nhà ở (nguyên liệu, kiểu dáng và kích thước) của người Eskimo chắc chắn khác với nhà ở của người Ai-Cập hay người Việt Nam; Người Mông Cổ- với nền văn hoá du mục truyền thống- chắc chắn ăn thịt sẽ nhiều hơn người Việt Nam; Hay tại sao cư dân vùng sa mạc lại mặc mầu trắng và trùm kín người như vậy… Tất cả những cái đó không thể có cách giải thích nào khác tốt hơn ngoài cách lý giải về sự tác động trực tiếp của môi trường tự nhiên ở từng nơi và con người phải thích nghi với những kiểu môi trường ấy để tồn tại và phát triển.

Ngay cả những hình thái văn hoá cao cấp như nghệ thuật chẳng hạn, ngay buổi bình minh của loài người, chúng ta đã nhận thấy những dấu ấn mà môi trường tự nhiên tác động lên những tác phẩm nghệ thuật âm nhạc (ví dụ những bài dân ca hay cách hát của người miền núi cao, hay miền đại dương như người Indonesia) hay tạo hình trong hang động ( chắc chắn những hình vẽ trong hang động của các bộ tộc á châu không thể có những chú tuần lộc như trong các hình vẽ của người Cree ở Canada được)…

Môi trường nào thì con người phải kiếm ăn theo cách tương ứng: Những cư dân tại các hòn đảo chắc chắn phải kiếm ăn bằng nghề săn bắt cá, cư dân trên các thảo nguyên phải biết chăn nuôi, du mục, Những người sống bên những cánh rừng trên lục địa lại kiếm ăn bằng săn bắn, hái lượm… Quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất này dần dần tạo thành những phương thức sản xuất nhất định, đến lượt nó phương thức sản xuất lại quy định lối sống, tức là văn hoá của xã hội ấy. Có thể nói, hoạt động sản xuất của cải vật chất là hoạt đống sống căn bản nhất của con người và chính nó quyết định nhiều nhất đến sự hình thành và phát triển văn hoá của từng xã hội. Như thế, có thể nói, tuy gián tiếp nhưng ở đây cũng không phải ai khác mà chính là môi trường đã quy định sự hình thành và phát triển của mỗi một nền văn hoá nói chung và một hình thái biểu tượng nào dó nói riêng. Có thể đưa ra đây một ví dụ như sau:

Ngôi nhà cộng đồng- một biểu thị văn hoá – trong quá trình được biểu tượng hoá có bị chi phối bởi môi trường kiếm sống? Câu trả lời là có, nhưng gián tiếp. Ngôi nhà cộng đồng của người êđê ở Tây Nguyên là biểu trưng của cái gì? Ngày nay, người ta – bằng dân tộc học so sánh- đã chứng minh được rằng: Người êđê có cội nguồn từ các bộ tộc miền Nam Đảo (Giống người nam Đảo từ trường ca Đam San, đến ngôn ngữ đặc trưng là những phụ âm tắc và đặc biệt là nghi lễ chặt cây để làm chiếc ghế dài trong nhà rông giống hệt như nghi lễ chặt cây của người Nam Đảo khi họ tiến hành lấy cây để đẽo chiếc thuyền độc mộc để mang theo thuyền lớn). Mà người Nam Đảo thì sinh sống chủ yếu bằng nghề đi biển và săn bắt hải sản. Vì thế, chắc ngôi nhà rông của người êđê là ẩn dụ về chiếc thuyền biển- về mặt văn hoá chắc chắn nó gợi nhớ được cội nguồn của họ.

Môi trường không chỉ tác động đến cuộc sống vật chất của con người mà nó còn tác động đến tâm trí, tư tưởng và đời sống tinh thần của con người.

Thuyết hồn linh thực sự là “triết học chung và hệ thống về thế giới tự nhiên” của con người cổ xưa (Tylor), là phương thức tư duy đặc thù của con người nguyên thuỷ: Họ không đối lập con người với hồn hay với các sinh loài khác, thậm chí ngay cả những vật thể tự nhiên như hòn đá cũng được họ xem như là chính họ, tức tất cả ở thế giới này đều tuân theo luật tham dự (Law of participation),đều có thể giao tiếp với nhau. Chính điều đó khiến họ ứng xử với chúng như chính với đồng loại. Các nhà nhân học chỉ ra đặc trưng của phương thức tư duy và kiểu ứng xử này bằng các thuật ngữ liên nhân (interperson) và tính liên chủ thể (intersujectivity)

Hay như C. Levi- Strauss khi phân tích về thuyết vật tổ (Totemism) đã khẳng định rằng: Thờ vật tổ như là một dạng thức phân loại trong đó vật thể tự nhiên được dùng để biểu thị các đơn vị xã hội.

2.2. Văn hoá lại tác động trở lại đến môi trường

Như vừa nói ở trên, môi trường tác động mạnh đến văn hoá (dù trực tiếp hay gián tiếp), đặc biệt nó góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển tư tưởng và tâm trí của con người. Vậy, văn hoá có tác động trở lại đến môi trường không?

Trên thế giới này có rất nhiều nền văn hoá khác nhau, nhưng cũng có thể phân loại chúng thành hai loại chính. Hai loại văn hoá này thể hiện hai loại tâm trí người, chúng phụ thuộc hay bị chi phối bởi quyền lực của hai loại tư tưởng hay hai phương pháp nhận thức sau:

1)Phương thức nhận thức 1: Duy lý/ nhân quả – Gián cách – Lập luận – Trừu tương

2)Phương thức nhận thức khác:Trải nghiệm/ tham dự

– Tổng thể/ không chia cách – Tính xúc cảm – Trực giác

Ngược lại, sự tham gia biểu thị một phương cách hợp nhất và đan quyện của việc trải nghiệm thực tại. Sự thể hiện rõ nhất cái này là tôn giáo. Một định hướng mang tính tôn giáo về thế giới ngụ ý một cảm giác của sự quan hệ và nối kết với các sự vật hiện tượng. Khi con người gắn kết với người khác và môi trường xung quanh một cái gì đó gần gũi, mang tính chia sẻ sẽ diễn ra. Nói cách khác, việc một cá nhân trải nghiệm cái gì đó cũng đều là một phần của một tổng thể lớn hơn. Sự tham gia đó gợi lên cảm giác cộng đồng và đồng cảm với người khác và thế giới.

Hai loại văn hoá này dẫn tới những hành vi có những tác động đến môi trường rất khác nhau.

Loại thứ nhất luôn đối lập tự nhiên và xã hội, coi con người là trung tâm và động cơ hành vi của con người trong mối quan hệ với môi trường là khai thác, tận dụng triệt để vì lợi ích của mình. Nạn tàn phá rừng và săn bắn động vật hoang dã ở nhiều nơi trên thế giới là một minh chứng.

Loại thứ hai không đặt con người đối lập với thế giới, coi mọi vật ở thế giới này đều có tính người và tính xã hội. Nói như Ingold thì vũ trụ là một xã hội lớn, trong đó có tương tác giữa con người có cơ thể (như chúng ta) với con người không cơ thể. Tất cả đều có tính chủ thể. Nền văn hoá này không chỉ sản sinh ra những hành vi tôn trọng môi trường mà còn sản sinh ra những khối lượng kiến thức về môi trường rất đáng khâm phục.

Nhiều học giả đã khẳng định khả năng nhận biết đặc biệt về động thực vật, các hiện tượng gió, ánh sáng, màu sắc, nước và không khí của thổ dân thuộc các bộ lạc cổ xưa mà người hiện đại chúng ta khó có thể theo kịp. Ví dụ, người Hanunoo có thể phân biệt được 75 loài chim, 12 loài rắn, hơn 60 loài cá; Hoặc hầu hết đàn ông Negrito có thể liệt kê một cách dễ dàng tên và mô tả ít nhất 450 loài cây, 75 loài chim, hầu hết các loại côn trùng… Levi- Strauss đã đánh giá năng lực này như sau:

Sự tận dụng những sản vật tự nhiên có sẵn của người Hawaii bản địa hầu như đã hoàn thiện hơn rất nhiều so với thời đại thương mại hiện nay, thời đại chỉ biết khai thác không thương tiếc một vài thứ mang lại lợi nhuận và thường xuyên phá huỷ những gì còn lại.

3. Kết

Ở nước ta, đây là vấn đề không chỉ mang tính lý thuyết thuần tuý, mà nó còn có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình nhận thức và tác động đến thực tiễn. Thực tiễn văn hóa – xã hội ở Việt Nam trong nhiều năm qua đã cho thấy, nhiều chính sách xã hội nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội và cải thiện đời sống cho đồng bào các dân tộc ít người đã không phát huy được tác dụng, sở dĩ như vậy là những người đề ra chính sách đã không thực sự “hiểu” được con người, văn hóa, xã hội của đồng bào dân tộc, thậm chí lại lấy chính những tiêu chí về văn hóa – xã hội của người Việt để áp đặt vào cuộc sống của họ: Ví dụ, nhiều buôn làng ở Tây Nguyên được nhà nước hỗ trợ để định cư, trồng lúa nước hai vụ, đào giếng nước, xây nhà văn hóa, ở theo lối nhà của người Việt, thậm chí, có nơi đồng bào còn thờ cúng tổ tiên như người Việt vv… Rõ ràng là, nếu có những nghiên cứu dân tộc học, nhân học theo cách “thâm nhập” và “hiểu” đồng bào các dân tộc thì chúng ta sẽ biết rằng, nhiều tộc người không phải du canh, du cư (như chúng ta thường diễn đạt), mà là chuyển canh theo cách hiểu khoa học của từ này: Họ có ý thức về địa lý, sở hữu và thổ nhưỡng của những khu đất mà họ canh tác; họ hiểu rằng khi nào thì phải chuyển địa điểm canh tác, khi nào thì những địa điểm đã được khai thác lại có thể canh tác trở lại được.

Tương tự như vậy là những chính sách “Đưa miền núi tiến kịp miền xuôi”, cái gọi là “đưa dân đồng bằng đi khai hoang làm kinh tế miền núi” để rồi dẫn đến nạn phá rừng…

TS. Bùi Quang Thắng Viện Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam

Môi Trường Biển Khái Niệm Và Các Vấn Đề Về Môi Trường Biển / 2023

TRANSCRIPT

MI TRNG BIN KHI NIM V CC VN V MI TRNG BINTNG CC BIN V HI O VIT NAMVIN NGHIN CU QUN L BIN V HI O Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o V THANH CA

I. MT S KHI NIM C BN V HIN TRNG MI TRNG VIT NAM1.1 Khi nim v mi trng v mi trng chúng tôi trng bao gm cc yu t t nhin v vt cht nhn to bao quanh con ngi, c nh hng n i sng, sn xut, s tn ti, pht trin ca con ngi v sinh chúng tôi phn mi trng l yu t vt cht to thnh mi trng nh t, nc, khng kh, m thanh, nh sng, sinh vt, h sinh thi v cc hnh thi vt cht khc. Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.1 Khi nim v mi trng v mi trng bin3. Hot ng bo v mi trng l hot ng gi cho mi trng trong lnh, sch p; phng nga, hn ch tc ng xu i vi mi trng, ng ph s c mi trng; khc phc nhim, suy thoi, phc hi v ci thin mi trng; khai thc, s dng hp l v tit kim ti nguyn thin nhin; bo v a dng sinh hc.4. Pht trin bn vng l pht trin p ng c nhu cu ca th h hin ti m khng lm tn hi n kh nng p ng nhu cu ca cc th h tng lai trn c s kt hp cht ch, hi ho gia tng trng kinh t, bo m tin b x hi v bo v mi trng. Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.1 Khi nim v mi trng v mi trng bin5. Tiu chun mi trng l gii hn cho php ca cc thng s v cht lng mi trng xung quanh, v hm lng ca cht gy nhim trong cht thi c c quan nh nc c thm quyn quy nh lm cn c qun l v bo v mi trng.6. nhim mi trng l s bin i ca cc thnh phn mi trng khng ph hp vi tiu chun mi trng, gy nh hng xu n con ngi, sinh vt. Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.1 Khi nim v mi trng v mi trng bin8. S c mi trng l tai bin hoc ri ro xy ra trong qu trnh hot ng ca con ngi hoc bin i tht thng ca t nhin, gy nhim, suy thoi hoc bin i mi trng nghim trng.9. Cht gy nhim l cht hoc yu t vt l khi xut hin trong mi trng th lm cho mi trng b nhim. 10. Cht thi l vt cht th rn, lng, kh c thi ra t sn xut, kinh doanh, dch v, sinh hot hoc hot ng khc. Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.1 Khi nim v mi trng v mi trng bin11. Cht thi nguy hi l cht thi cha yu t c hi, phng x, d chy, d n, d n mn, d ly nhim, gy ng c hoc c tnh nguy hi khc.12. Qun l cht thi l hot ng phn loi, thu gom, vn chuyn, gim thiu, ti s dng, ti ch, x l, tiu hy, thi loi cht thi.13. Ph liu l sn phm, vt liu b loi ra t qu trnh sn xut hoc tiu dng c thu hi dng lm nguyn liu sn xut. Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.1 Khi nim v mi trng v mi trng bin14. Sc chu ti ca mi trng l gii hn cho php m mi trng c th tip nhn v hp th cc cht gy nhim.15. H sinh thi l h qun th sinh vt trong mt khu vc a l t nhin nht nh cng tn ti v pht trin, c tc ng qua li vi nhau.16. a dng sinh hc l s phong ph v ngun gen, loi sinh vt v h sinh thi.17. Quan trc mi trng l qu trnh theo di c h thng v mi trng, cc yu t tc ng ln mi trng nhm cung cp thng tin phc v nh gi hin trng, din bin cht lng mi trng v cc tc ng xu i vi mi trng.

Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.1 Khi nim v mi trng v mi trng bin18. Thng tin v mi trng bao gm s liu, d liu v cc thnh phn mi trng; v tr lng, gi tr sinh thi, gi tr kinh t ca cc ngun ti nguyn thin nhin; v cc tc ng i vi mi trng; v cht thi; v mc mi trng b nhim, suy thoi v thng tin v cc vn mi trng khc.19. nh gi mi trng chin lc l vic phn tch, d bo cc tc ng n mi trng ca d n chin lc, quy hoch, k hoch pht trin trc khi ph duyt nhm bo m pht trin bn vng.

Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.1 Khi nim v mi trng v mi trng bin20. nh gi tc ng mi trng l vic phn tch, d bo cc tc ng n mi trng ca d n u t c th a ra cc bin php bo v mi trng khi trin khai d n .21. Kh thi gy hiu ng nh knh l cc loi kh tc ng n s trao i nhit gia tri t v khng gian xung quanh lm nhit ca khng kh bao quanh b mt tri t nng ln.22. Hn ngch pht thi kh gy hiu ng nh knh l khi lng kh gy hiu ng nh knh ca mi quc gia c php thi vo bu kh quyn theo quy nh ca cc iu c quc t lin quan. Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.1 Khi nim v mi trng v mi trng binNh vy: Mi trng t nhin c th nh ngha nh l t hp ca cc yu t kh hu, sinh thi hc, ho hc v th nhng tc ng ln con ngi v cc c th sng khc v xc nh cc hnh thc sinh tn ca chng. Mi trng bao gm tt c mi th m c th c nh hng trc tip n s trao i cht hay cc hnh vi ca con ngi v cc c th sng hay cc loi, bao gm nh sng, khng kh, nc, t v cc c th sng khc.

Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.1 Khi nim v mi trng v mi trng bin Mi trng bin bao gm tt c mi th m c th c nh hng trc tip n s trao i cht hay cc hnh vi ca con ngi v cc sinh vt sng trong bin, bao gm nh sng, khng kh trn bin, nc bin, t ti y bin (trm tch bin) v cc c th sng trong bin. Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.2 H sinh thi bin v a dng sinh hcCc h sinh thi bin v ven bin c cc gi tr dch v rt quan trng nh iu chnh kh hu, iu ha dinh dng trong vng bin thng qua cc qu trnh sinh a ha, nhiu khu vc ca HST cn l ni c tr , sinh v ng nui u trng ca nhiu loi thy sinh vt khng ch ngay vng b m cn t ngoi khi vo theo ma, trong c nhiu loi hi sn c gi tr kinh t cao. a dng sinh hc (FAO): a dng sinh hc l tnh a dng ca s sng di mi hnh thc, mc v mi t hp, bao gm a dng gen, a dng loi v a dng h sinh thi Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.2 H sinh thi bin v a dng sinh hcVit Nam nm trong vng kh hu nhit i gi ma, rt thun li hnh thnh nhng khu ng, thc vt c tnh a dng sinh hc chúng tôi nghin cu gn y cng cho thy bin nc ta c cc h sinh thi nhit i in hnh nh rn san h, rng ngp mn, thm c bin phn b ph bin vng bin nng ven b sut t Bc ti Nam v cc o chúng tôi nc ta cung cp ngun hi sn rt quan trng, ngun ngoi t thu c cho nn kinh t quc gia t xut khu hi sn l to ln, ng th 2 sau ngnh du kh. Bin v vng b bin cn c tim nng to ln v du lch.

Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.2 H sinh thi rn san hRn san h l tp hp cc c th hu c c hnh dng khc nhau gi l Polyp. Rn san h pht trin l do cc polyp hp th vi v to ra cc xng san h vn ra c ln pha trn c ra xung quanh.

Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.2 H sinh thi rn san hNng sut v tnh a dng: – Hiu sut sinh sn s cp ca mt rn san h l rt cao, gi tr cao nht trn mi mt vung mc 5-10g/m2 /ngy.- Cc rn san h l ni tr ng ca nhiu loi c nhit i hoc mt s loi c chuyn sng trong rn san h nh c thia, c mtheo nghin cu c 4000 loi c sng ti rn san chúng tôi tr, li ch ca rn san h:- Do a dng sinh hc ln ca cc rn san h nn rn san h c vai tr c bit quan trng trong h sinh thi bin.- L nh ca nhiu loi sinh vt khc, trong c bt bin, mt s loi thch ti (san h v sa), giun, mt s loi ly trc tip ly san h lm thc n. Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.2 H sinh thi rn san hCc rn san h thng tn ti cc khu vc c mc dinh dng thp v thng tn ti cng vi cc khu vc rng ngp mn hay thm c bin gn . Rng ngp mn hay thm c bin cung cp cht dinh dng cho rn san h cn rn san h bo v rng ngp mn hay thm c bin khi cc tc dng ca sng. i cng vi s suy thoi ca rn san h l s vng bng ca cc loi hi sn qu v s suy gim sn lng nh bt hi snNgoi ra rn san h cn c tc dng chn sng t nhin, lm lng ng trm tch, lm vt liu xy dng, lm thuc v l ti nguyn du lch Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.2 H sinh thi rn san hS suy thoi:Hin nay rn san h ang b suy thoi nghim trng, nu s ph hy tng ln theo tc hin hnh th 70% rn san h trn th gii s bin mt trong vng 50 nm ti. Hughes, (2003) vit Vi dn s th gii ngy cng tng cao v cc h thng vn ti lu tr ngy cng pht trin th nh hng ca con ngi i vi cc rn san h s c quy m tng theo cp ly tha.Nguyn nhn suy thoi:Con ngi- Cc hot ng ca con ngi tip tc l mi e da ln nht v duy nht i vi cc rn san h trong cc i dng ca Tri t. C th, s nhim, Lm dng ngh c v hot ng giao thng hng hi Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.2 H sinh thi rn san hDo t nhin- C nhiu nhn t, trong c vai tr ca cc i dng nh chm ln ixt cacbon, cc thay i trong kh quyn Tri t, tia cc tm, s axt ha i dng, virus sinh hc, nh hng ca bo ct, cc cht nhim khc nhau, nh hng ca s bng n to v.v. Gii php bo tn: – Mt trong nhng gii php bo tn v khi phc cc rn san h l hn ch nh bt c. – Hin nay nhiu chnh ph cm ly san h t cc rn san h gim thit hi do nhng ngi ln dng bnh dng kh. Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.2 H sinh thi rn san h- Mt phng php bo tn cc rn san s ven bin ngy cng tr nn ni tri l vic t chc cc khu bo tn bin. Cc khu bo tn ny c thnh lp ng Nam v nhiu ni khc trn th gii nhm n lc khuyn khch qun l c trch nhim v bo v sinh thi. – C th khi phc cc rn san h bng phng php nui, cy. VIT NAM:Vit Nam nm trong vng a dng san h ln nht th gii, c iu kin t nhin ni chung l thun li cho s pht trin ca rn san h.

Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.2 H sinh thi rn san hMc d rn san h ng vai tr quan trng i vi mi trng bin Vit Nam, nhng h sinh thi ny ang b khai thc qu mc v c nguy c b hy chúng tôi th d v bo tn HST rn san h l tnh Qung Ninh. Ngy 2-10-2006, S Thy sn Qung Ninh trnh UBND tnh, ngh UBND tnh, trnh Chnh ph, B Thy sn cho thnh lp Khu bo tn bin C T – o Trn, thuc vng bin o huyn C T Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.4 H sinh thi thm c binThm c bin l cc loi thc vt bin c cu trc chnh tng t nh cc loi thc vt trn cn. Chng c l hnh oval hoc hnh ai, di, mu xanh, mc thnh tng m nh c trn cn v n hoa nh xu. Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.4 H sinh thi thm c biniu kin tn ti v pht trin: cn cht dinh dng v nh sng v vy chng thng mc vng ven bin nhit i v n i ti vng nc kh nng, sch, chiu sng tt v khng c tc ng sng chúng tôi sut: l mt trong nhng h sinh thi c nng sut cao nht.C a dng sinh hc v sn lng sinh khi ln. y l ni ng c ca nhiu loi c, tm, cua v nhiu loi hi sn khc.

Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.4 H sinh thi thm c binChc nng: c tm quan trng c bit trong h sinh thi vng ven b, lm gim tc dng chy, to iu kin cho bn ct lng ng, lm n nh y, chng xi mn, l ni ng c ca nhiu loi sinh vt bin, cung cp oxy cho nc bin, tc sinh sn s cp ca thm c bin rt cao.Nguyn nhn suy thoi: Do ph dng nc bin, bng n ca to bin, tng c ca nc lm gim nh sng trong bin, cc hot ng ph hoi nh no vt, khai thc bn hoc ln bin, hot ng nh bt qu mc. Vin Nghin cu Qun l Bin & Hi o

1.4 H sinh thi thm c binCc gii php bo v: Cc gii php bo v c bin l gim lng dinh dng thi vo nc bin v mc nhim