Top 19 # Xem Nhiều Nhất Sốt Plum Là Gì / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Sieuphampanorama.com

Sốt Là Gì? Làm Gì Khi Bị Sốt / 2023

Nhiệt độ của cơ thể thay đổi như thế nào trong ngày?

Nhiệt độ cơ thể bình thường của con người có thể thay đổi và bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như ăn uống, tập thể dục, ngủ và thời gian trong ngày.

Nhiệt độ cơ thể của chúng ta thường cao nhất vào khoảng 6 giờ chiều. và ở mức thấp nhất vào khoảng 3 giờ sáng.

Tại sao chúng ta lại bị sốt?

Nếu bị sốt, đây là tất cả những điều bạn cần biết để xử lý đúng cách – Ảnh 2.

Nhiệt độ cơ thể tăng cao, hoặc sốt, là một trong những cách mà hệ miễn dịch của chúng ta cố gắng chống lại tác nhân nhiễm trùng.

Tuy nhiên, đôi khi nó có thể tăng quá cao, trong trường hợp đó, sốt có thể nghiêm trọng và dẫn đến biến chứng.

Khi bị sốt, chúng ta sẽ có triệu chứng gì?

Khi bị sốt, chúng ta thường đi kèm với các triệu chứng sau đây:

* Mất nước – ngăn ngừa bằng cách uống nhiều nước

Điều trị sốt bằng cách nào?

Nếu bị sốt, đây là tất cả những điều bạn cần biết để xử lý đúng cách – Ảnh 3.

Thuốc chống viêm không steroid (NSAID) như Tylenol (paracetamol) hoặc ibuprofen có thể giúp hạ sốt.

Bạn có thể mua tại các tiệm thuốc tây mà không cần toa của bác sĩ. Tuy nhiên, sốt nhẹ có thể giúp chống lại vi khuẩn hoặc vi-rút gây nhiễm trùng. Vì vậy không nên hạ sốt nếu chỉ sốt nhẹ.

Nếu sốt do bởi một nhiễm trùng do vi khuẩn, bác sĩ có thể kê đơn thuốc kháng sinh.

Nếu bị sốt do cảm lạnh gây ra do nhiễm virus, NSAID có thể được sử dụng để làm giảm các triệu chứng khó chịu.

Thuốc kháng sinh không có tác dụng chống vi-rút và sẽ không được bác sĩ kê toa để điều trị nhiễm virus.

Uống nước: Nếu bị sốt, bạn nên uống nhiều nước để ngăn ngừa tình trạng mất nước. Mất nước sẽ làm cho bệnh nặng thêm.

Đột quỵ do nhiệt: Các NSAID sẽ không có hiệu quả nếu sốt do thời tiết nóng hoặc tập luyện quá sức kéo dài. Bệnh nhân cần được làm lạnh. Nếu bị lú lẫn hoặc bất tỉnh, nên được bác sĩ điều trị ngay lập tức.

Các nguyên nhân gây sốt là gì?

Sốt có thể do một số yếu tố gây ra:

* Nhiễm trùng, chẳng hạn như viêm họng, cúm, thủy đậu hoặc viêm phổi

* Da tiếp xúc quá nhiều với ánh sáng mặt trời, hoặc bị cháy nắng

* Tiếp xúc với nhiệt độ cao hoặc tập thể dục quá sức kéo dài

* Silicosis, một loại bệnh phổi gây ra do tiếp xúc lâu dài với bụi silic

Phân độ sốt như thế nào?

Thời gian sốt như thế nào?

* Cấp tính nếu nó kéo dài dưới 7 ngày

* Bán cấp, nếu nó kéo dài đến 14 ngày

* Mãn tính hoặc kéo dài, nếu nó tồn tại trong hơn 14 ngày

Sốt tồn tại trong nhiều ngày hoặc vài tuần không tìm được nguyên nhân gọi là “sốt kéo dài không rõ nguyên nhân”.

Sốt co giật ở trẻ em là gì?

Trẻ em có nhiệt độ cao có thể bị co giật do sốt, còn được gọi là sốt co giật; hầu hết chúng không nghiêm trọng và có thể là hậu quả của nhiễm trùng tai, viêm dạ dày ruột hoặc nhiễm vi rút đường hô hấp hay cảm lạnh.

Ít gặp hơn, co giật do sốt có thể có nguyên nhân nghiêm trọng, như viêm màng não, nhiễm trùng thận hoặc viêm phổi.

Làm sao để ngăn ngừa sốt?

Vệ sinh – sốt thường do nhiễm trùng do vi khuẩn hoặc virus gây ra. Vệ sinh tốt giúp giảm nguy cơ nhiễm trùng. Bao gồm rửa tay trước và sau bữa ăn, và sau khi đi vệ sinh.

Một người bị sốt do nhiễm trùng nên có ít tiếp xúc nhất có thể với người khác, để ngăn ngừa sự lây lan của bệnh. Bất cứ ai chăm sóc cho bệnh nhân nên thường xuyên rửa tay bằng xà phòng và nước ấm.

*Theo medicalnewstoday/medicinenet/nhs.uk

Bệnh Sốt Xuất Huyết Là Gì? / 2023

Bệnh sốt xuất huyết hay sốt xuất huyết do virus là từ để chỉ một nhóm bệnh sốt xảy ra ở người và động vật. Nhóm bệnh này có thể xảy ra do 5 họ virus khác nhau: họ Arenaviridae, họ Bunyaviridae, họ Filoviridae, họ Flaviviridae và họ Rhabdoviridae. Tất cả các bệnh sốt xuất huyết đều được đặc trưng bởi sốt và rối loạn chảy máu (xuất huyết). Một số loại virus gây ra các bệnh sốt xuất huyết tương đối nhẹ trong khi nhiều loại khác, chẳng hạn như virus Ebola, virus Lassa,… có thể gây ra các tình trạng nghiêm trọng, thậm chí gây tử vong.

Ở Việt Nam, hầu như 100% các ca bệnh sốt xuất huyết xảy ra là do virus dengue, một loại virus thuộc họ Flaviviridae phổ biến ở các vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới trên toàn thế giới. Do đó khái niệm sốt xuất huyết ở nước ta được sử dụng để nói về sốt xuất huyết Dengue và trong bài viết này, chúng tôi cũng sẽ chỉ đề cập đến căn bệnh sốt xuất huyết Dengue mà thôi.

Sốt xuất huyết Dengue là một căn bệnh nhiệt đới lây nhiễm do muỗi bắt nguồn từ virus Dengue. Căn bệnh này lây nhiễm chủ yếu qua cơ thể vật chủ trung gian là muỗi vằn hoặc theo một số điều kiện đặc biệt khác (rất hiếm hoi).

Khi bị nhiễm virus Dengue, bệnh nhân có thể bị sốt Dengue cổ điển (thể nhẹ), sốt xuất huyết Dengue hoặc nặng hơn là mắc phải Hội chứng sốc Dengue. Cả 3 dạng bệnh này đều có thể gây ra tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

Quá trình mắc bệnh sốt xuất huyết Dengue được chia làm 3 giai đoạn chính: giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn phục hồi. Các giai đoạn của bệnh sốt xuất huyết cụ thể như sau:

Trong giai đoạn này, bệnh nhân có thể bị sốt cao (trên 40ᵒC), đau nhức toàn thân và đau đầu kéo dài từ 02 – 07 ngày, có thể buồn nôn và ói mửa. Khoảng 50 – 80% trường hợp xuất hiện triệu chứng phát ban (xuất hiện ban đỏ gây ngứa trên da) vào ngày đầu tiên hoặc sau đó từ 03 – 06 ngày. Có thể xuất huyết nhẹ từ miệng hoặc mũi.

Trong giai đoạn này, cơn sốt sẽ giảm một cách đột ngột hoặc biến mất hẳn. Tuy nhiên sẽ xuất hiện tình trạng rò rỉ huyết tương từ các mạch máu, gây tụ dịch trong lồng ngực và bụng, suy giảm thể tích máu và từ đó làm giảm lượng máu cung cấp đến các cơ quan quan trọng. Điều này có thể dẫn tới sự rối loạn các chức năng của nội tạng và gây chảy máu nghiêm trọng. Đây là giai đoạn rất nguy hiểm bởi tình trạng thiếu máu sẽ có thể gây ra các biến chứng lâu dài, thậm chí dẫn tới tử vong.

Trong giai đoạn này, cơ thể sẽ dần dần hồi phục. Huyết tương được hấp thụ trở lại vào mạch máu, cơn sốt lui dần. Một số vấn đề có thể xảy ra bao gồm phát ban, ngứa, nhịp tim chậm, quá tải dịch.

Sốt xuất huyết Dengue là một căn bệnh cực kỳ nguy hiểm. Nhất là với đặc điểm: giai đoạn nguy hiểm có thể gây biến chứng thường đi kèm với việc cơn sốt giảm đột ngột. Điều này thường dễ gây hiểu lầm cho bệnh nhân và người nhà là căn bệnh đã khỏi hẳn, từ đó làm chậm trễ việc điều trị có thể dẫn tới những biến chứng hoặc thậm chí là tử vong. Các biến chứng nguy hiểm của bệnh sốt xuất huyết mà bệnh nhân thường gặp phải cụ thể như sau:

– Biến chứng về mắt: Tình trạng xuất huyết có thể xảy ra ở mắt gây hòa tan dịch kính (khối chất lỏng giúp mắt nhìn được bình thường) hoặc làm tổn hại các mạch máu của võng mạc, từ đó làm giảm thị lực hoặc gây mù vĩnh viễn.

– Biến chứng về phổi: Huyết tương tràn ra ngoài có thể gây tràn dịch màng phổi, viêm phổi hoặc phù phổi, từ đó khiến cho hệ hô hấp của cơ thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tình trạng nhẹ cũng khiến bệnh nhân giảm thể lực tạm thời hoặc vĩnh viễn, nếu nặng có thể gây tử vong do suy hô hấp.

– Biến chứng về nội tạng: Việc thoát và tích huyết tương làm giảm lượng máu cung cấp đến các cơ quan quan trọng, khiến chúng phải làm việc nhiều hơn trong tình trạng không đủ chất dinh dưỡng. Từ đó sẽ dẫn tới tình trạng suy đa tạng mà cụ thể là suy tim, viêm tim, suy gan, suy thận,…

– Xuất huyết não: Đây là một trong những biến chứng nguy hiểm nhất. Là một trong những bộ phận quan trọng nhất, điều khiển hoạt động của toàn bộ cơ thể, tình trạng xuất huyết sẽ gây chèn ép não. Về lâu dài có thể khiến sức khỏe bị suy nhược, giảm trí thông minh, liệt cục bộ hay liệt toàn thân, chết não hoặc tử vong.

– Độ thấm thành bụng ở người lớn kém hơn so với trẻ em tức là khả năng xuất huyết cũng cao hơn. Do đó khi mắc bệnh sốt xuất huyết Dengue, người lớn thường có nguy cơ mắc phải các biến chứng và tử vong cao hơn so với trẻ em.

– Đặc điểm nguy hiểm nhất của bệnh sốt xuất huyết Dengue là tình trạng giảm sốt đột ngột vào giai đoạn nguy hiểm nhất (từ khoảng ngày thứ 3). Do đó, nếu người bệnh đang ở trong vùng dịch và lại giảm sốt một cách đột ngột, cần phải lập tức đưa đến bệnh viện để tiến hành khám và điều trị.

– Bệnh sốt xuất huyết Dengue gây thoát huyết tương, không phải gây mất nước. Do đó cần cẩn thận và hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tiến hành truyền dịch.

– Vào giai đoạn hồi phục, huyết tương thoát ra ngoài đã bắt đầu được hấp thụ trở lại. Lúc này cần phải cẩn thận trong việc truyền dịch để tránh gây ra tình trạng quá tải dịch có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm như phù phổi, suy tim,….Nếu vẫn muốn truyền dịch thì có thể cho bệnh nhân uống kèm thuốc lợi tiểu để tăng cường bài tiết nước ra ngoài.

thậm chí là nguy cơ tử vong.

Sốt Cỏ Khô Là Gì ? Sốt Cỏ Khô Khác Sốt Thông Thường Như Thế Nào? / 2023

Sốt cỏ khô là gì ? Sốt cỏ khô khác sốt thông thường như thế nào?

Sốt cỏ khô có những triệu chứng tương tự với viêm mũi dị ứng, song không giống với cảm lạnh hay sốt thông thường do virus mà nguyên nhân gây bệnh thường bắt nguồn từ những phản ứng của cơ thể trước các tác nhân gây dị ứng. Để hiểu rõ hơn về căn bệnh với tên gọi còn khá xa lạ này mời bạn tham khảo bài viết sau.

Sốt cỏ khô là gì?

Sốt cỏ khô vẫn thường được gọi là viêm mũi dị ứng do triệu chứng bệnh tương đối giống nhau, nhưng không giớn với sốt hay cảm lạnh thông thường, bệnh không phải do virus mà nguyên nhân xuất phát từ các phản ứng gây dị ứng đến từ môi trường ngoài như phấn hoa, lông thú, mạt bụi…

Sốt cỏ khô có thể gây khó chịu bởi những cơn đau cổ, làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động học tập và công việc hằng ngày, nếu điều trị sớm bạn có thể nhanh chóng lấy lại sức khỏe và tạo nên khác biệt lớn so với trước khi điều trị.

Triệu chứng sốt cổ khô thường bắt đầu ngay lập tức khi vừa tiếp xúc với nguồn gây dị ứng, bao gồm các biểu hiện như:

 – Ho, hắt hơi.

– Chảy nước mũi và nghẹt mũi.

– Ngứa mắt hoặc mắt chảy nước.

– Ngứa mũi, miệng hay vòm họng.

– Mắt sưng hoặc có màu xanh da dưới mắt.

– Giảm hoặc mất cảm giác về mùi vị.

Các triệu chứng của bệnh thường bắt đầu tồi tệ tại một số thời điểm nhất định trong năm hoặc được kích hoạt do tiếp xúc với phấn hoa hay cỏ dại vào những thời điểm khác. Nếu các triệu chứng này làm ảnh hưởng đến cuộc sống của bạn, hãy thăm khám và nhận trợ giúp từ bác sĩ ngay.

Sốt cỏ khô khác sốt thông thường như thế nào?

Sốt vỏ khô thường kéo dài hơn so vời các cơn sốt do cảm cúm hay cảm lạnh đến vài tuần. Triệu chứng bệnh cũng tương đối giống nhau bao gồm: sốt cao, chảy nước mũi, có dịch đờm nhầy ở mũi, ngứa (nếu là sốt cỏ khô thường tập trung chủ yếu ở khu vực quanh mắt, miệng, mũi hay cổ họng), những đợt sổ mũi do sốt cỏ khô gây ra cũng nghiêm trọng hơn.

Tuy nhiên, vẫn có một số điểm khác biệt đáng lưu ý giữa sốt thông thường so với sốt cỏ khô. Cụ thể như:

Sốt cỏ khô

Sốt thông thường

Dấu hiệu

Chảy nước mũi, lưu lượng vừa, sốt nhẹ hoặc không kèm theo sốt. Nước mũi chảy ra có màu vàng, đặc. Đau nhức toàn than, mức độ sốt tùy thể trạng.

Khởi phát

Ngay sau khi tiếp xúc với yếu tố dị ứng.

Từ một đến ba ngày sau khi tiếp xúc với virus gây bệnh.

Thời gian Kéo dài hơn từ 1-2 tuần so với sốt thông thường.

Kéo dài từ 5-7 ngày.

Sốt cỏ khô có thể gây ra những phản ứng nguy hiểm cho cơ thể nếu không được điều trị kịp thời, vì vậy khi có các biểu hiện của bệnh bạn nên nhanh chóng tìm đến phòng khám chuyên khoa để được xử lý.

Sốt Xuất Huyết Và Sốt Rét: Sự Khác Biệt Là Gì? / 2023

Sốt xuất huyết và sốt rét là hai căn bệnh lây nhiễm do muỗi mang mầm bệnh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của cả người lớn và trẻ nhỏ. Hai bệnh nhiễm trùng này phổ biến ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, gây ra tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao cho nhiều bệnh nhân trên thế giới.

Mặc dù chúng ta thường cho rằng sốt xuất huyết và sốt rét đồng nghĩa với nhau, nhưng sự thực không như vậy. Điều cần thiết là phải biết sự khác biệt giữa hai căn bệnh để có sự chuẩn bị tốt nhất cho tất cả các tình huống.

Sốt xuất huyết là do vết cắn của muỗi cái Andes gây ra nhiễm virus ở người trong khi Sốt rét do Parasite Plasmodium gây ra và có thể ảnh hưởng đến cả người và động vật. Cả Sốt rét và sốt xuất huyết đều có thể dẫn đến tử vong và cực kỳ nguy hiểm.

Bệnh bắt đầu bằng một vết muỗi đốt và thường kết thúc bằng việc tử vong của người đó nếu không điều trị kịp thời. Muỗi có thể cắn bạn bất cứ nơi nào dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng.

Vậy sự khác biệt giữa Sốt xuất huyết và sốt rét là gì?

Sốt rét là một bệnh truyền nhiễm do ký sinh trùng đơn bào thuộc họ Plasmodium gây ra và thường lây truyền qua vết cắn của muỗi Anophele hoặc do kim tiêm hoặc truyền máu.

Sốt rét ảnh hưởng trực tiếp đến các tế bào máu đỏ hoặc hồng cầu có thể lây truyền trong muỗi Anophele cắn một người hoặc động vật đã bị nhiễm bệnh này. Sốt rét có thời gian ủ bệnh là 7 ngày và đối với sốt xuất huyết thì khác nhau.

Sốt xuất huyết là một bệnh nhiễm virus do muỗi truyền. Nhiễm trùng dẫn đến cúm như sốt và bệnh trong khoảng thời gian đều đặn, phát triển thành một biến chứng gây tử vong, được gọi là sốt xuất huyết nặng.

Sốt xuất huyết không phải là bệnh truyền nhiễm nhưng ảnh hưởng đến hồng cầu và tiểu cầu. Muỗi sốt xuất huyết cắn một người trong ánh sáng ban ngày thích hợp và các tác dụng phụ của nó bắt đầu xuất hiện trong khoảng 4 đến 13 ngày, trước khi xuất hiện bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng thích hợp nào.

Sốt xuất huyết còn được gọi là sốt xương gãy có thể thay đổi từ nhẹ đến nặng. Các dạng nặng hơn bao gồm hội chứng sốc sốt xuất huyết và sốt xuất huyết (DHF). Bệnh nhân phát triển các dạng sốt xuất huyết nghiêm trọng hơn thường phải nhập viện.

Sốt rét được truyền qua vết cắn của muỗi cái Anophele. Sốt rét chỉ có thể lây lan qua vết cắn của muỗi không giống như sốt xuất huyết. Muỗi truyền bệnh thường trở nên hoạt động và cắn trong đêm.

Sốt xuất huyết được khuếch tán bởi vết cắn của muỗi Aedes aegypti bị nhiễm bệnh. Nó có thể lây lan thêm nếu một con muỗi khác tấn công người bị nhiễm bệnh và sau đó lây sang một số người khác. Muỗi Aedes aegypti tấn công vào ban ngày.

Bệnh sốt rétphổ biến rộng rãi ở châu Phi cận Sahara. Tuy nhiên, châu Á và châu Mỹ Latinh cũng bị ảnh hưởng.

Ở mức độ thấp hơn, một số khu vực của Châu Âu và Trung Đông cũng bị ảnh hưởng, vị trí chủ yếu là nông thôn.

Sốt xuất huyết phổ biến rộng rãi ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Đây là loài đặc hữu ở hơn 100 quốc gia ở Châu Phi, Đông Địa Trung Hải và Châu Mỹ, Tây Thái Bình Dương và Nam Thái Châu Á. Vị trí chủ yếu là đô thị.

Chúng bao gồm Plasmodium Vivax, Plasmodium Malaria, Plasmodium ovale, Plasmodium Falciparum và Plasmodium Knowlesi.

Sốt xuất huyết là một bệnh gây sốt cấp tính do virus truyền qua muỗi Aedes, virus sốt xuất huyết, ví dụ DENV, bao gồm 4 loại huyết thanh (DENV 1/ DENV 2/ DENV 3/ DENV 4), là thành viên của họ flaviviridae, chi flavachus.

Tất cả 4 kiểu huyết thanh DENV đã nổi lên từ các chủng sylvatic trong các khu rừng ở Đông Nam Á.

Thông thường, bệnh sốt rét có thời gian ủ bệnh từ 10 – 15 ngày sau khi bị muỗi đốt.

Thời gian ủ bệnh sốt xuất huyết dao động từ 3 – 14 ngày, sau khi muỗi đốt bị nhiễm bệnh, trung bình từ 4 – 7 ngày.

Sốt xuất huyết thường kéo dài trong một thời gian dài hơn và xuất hiện trong 2 – 3 ngày. Nó biến mất một thời gian và tăng trở lại và tình trạng tồi tệ hơn trước.

Mặt khác, sốt rét kéo dài trong một thời gian ngắn hơn và xuất hiện trong các giai đoạn cực kỳ lạnh, đổ mồ hôi và cực lạnh trở lại.

Phương thức truyền bệnh của sốt rét là qua Vectơ muỗi, kim đâm, truyền máu.

Phương thức truyền bệnh của sốt xuất huyết chỉ qua muỗi Aedes cắn.

Sốt rét là một căn bệnh nghiêm trọng do truyền Plasmodium, một động vật nguyên sinh ký sinh, xâm nhập vào cơ thể thông qua vết cắn của muỗi bị nhiễm bệnh. Các triệu chứng phổ biến của bệnh sốt rét như sau:

Phát ban thường chỉ được quan sát trong sốt xuất huyết. Bệnh nhân sốt rét không biểu hiện phát ban. Vì vậy, nếu bạn nhận thấy phát ban trên người bệnh, có nhiều khả năng họ đang bị sốt xuất huyết.

Sốt cao trong 2-3 ngày, ớn lạnh,

Nhức đầu không chịu nổi

Buồn nôn liên tục,

Ho khan không ngừng, ngất,

Ra mồ hôi nhiều, Vàng da,

Gan to, lá lách to, chán ăn (rối loạn ăn uống đặc trưng bởi trọng lượng thấp).

Đau cơ và không có khả năng thực hiện các nhiệm vụ thể chất

Khó chịu và mệt mỏi

Chuyển động lỏng và chảy nước mũi

Sốt đột ngột (39 đến 41 độ C),

Nhức đầu, mệt mỏi,

Đau dữ dội sau mắt

Số lượng tế bào bạch cầu thấp,

Ngứa, đau quỹ đạo retro,

Nổi mề đay da, dễ bầm tím

Đau khớp vừa (mắt cá chân, đầu gối, khuỷu tay),

Sưng hạch và nổi mẩn ở chi trên và dưới ,

Ngứa dữ dội, nổi hạch bạch huyết, nóng mắt,

Chán ăn và vị giác, chảy máu cam (chảy máu mũi),

Máu trong phân và phân, chảy máu nướu.

Cơn sốt đôi khi tan biến và sau đó tái phát diễn ra cùng với đỏ da và phát ban.

Mặt khác, nếu một người bị ớn lạnh và đổ mồ hôi nhiều, họ có thể được chẩn đoán mắc bệnh Sốt rét.

Một người bị nhiễm sốt xuất huyết sẽ cho thấy số lượng tiểu cầu trong máu giảm mạnh trong khi một người bị sốt rét sẽ cho thấy các tế bào hồng cầu bị nhiễm bệnh vì đó là nơi sốt cao nhất.

Không có vắc-xin có sẵn cho bệnh sốt rét. Tuy nhiên, thuốc chống sốt rét có sẵn. Tốt hơn là bạn nên chủ động bảo vệ bản thân khỏi muỗi đốt.

Các loại thuốc chống sốt rét nên được sử dụng dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia y tế.

Không có vắc-xin có sẵn sốt xuất huyết. Tuy nhiên, để an toàn, chỉ cần tránh muỗi đốt. Uống nước đầy đủ được khuyến khích để tránh bị mất nước cho cơ thể.

Các biến chứng đe dọa tính mạng do nhiễm sốt rét với Plasmodium falciparum có thể bao gồm:

Biến chứng khá là nghiêm trọng khi tình trạng tiến triển thành sốt xuất huyết nặng. Vết bầm tím và đốm máu bên dưới da, viêm phổi và sưng tim có thể xảy ra.

Sốt rét não tức là nhiễm trùng sốt rét đến não kèm theo co giật, nhầm lẫn và mệt mỏi quá mức dẫn đến hôn mê và thậm chí tử vong.

Giữ nước trong phổi (phù phổi).

Suy thận.

Chức năng gan dương.

Thiếu máu bất sản (Khi cơ thể ngừng sản xuất đủ tế bào máu mới).

Giảm WBC tức là bạch cầu.

Hạ đường huyết (Giảm lượng đường trong máu).

Thay đổi hóa học máu, bao gồm natri thấp và pH thấp (nhiễm axit lactic).

Cơn sốt Blackwater sốt (xé rách RBCs tức là hồng cầu, gây ra nước tiểu có màu sẫm).

Sốt xuất huyết nặng là một tình trạng sức khỏe nghiêm trọng có thể gây tử vong và dẫn đến tỷ lệ tử vong cho 5% số người nhiễm bệnh.

Trích nguồn bài viết từ Wiki FCarePlus