Top 15 # Xem Nhiều Nhất Trình Bày Khái Niệm Marketing / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Sieuphampanorama.com

Bài 1: Khái Niệm Lập Trình Và Ngôn Ngữ Lập Trình / 2023

GV: Có những loại NNLT nào?

HS: NN máy, hợp ngữ, NN bậc cao.

GV: Em hiểu ntn về NN máy, hợp ngữ và NN bậc cao?

HS: Trả lời?

GV: nhận xét, kết luận.

GV: Hãy kể tên một số NNLT mà em biết?

HS: Assembly, Pascal, C, Java.

GV: NNLT là gì?

HS: Trả lời

GV: Vì sao không lập trình trên NN máy mà phải dùng NN bậc cao?

HS: Trả lời

GV: Lập trình là gì?

HS: Trả lời

GV: Nhận xét, kết luận

GV: Hãy nêu các bước để xác định thuật toán?

HS: Xác định bài toán, xây dựng thuật toán, lập trình.

GV: Làm thế nào để chuyển một chương trình viết từ NN bậc cao sang NN máy?

HS: Phải sử dụng 1 chương trình dịch để chuyển đổi.

GV: Đầu vào của chương trình dịch là 1 chương trình được viết bằng NN bậc cao. Đầu ra là 1 chương trình thể hiện bằng NN máy.

GV: Biên dịch là gì? Thông dịch là gì? Cho ví dụ?

HS: Trả lời.

GV: Nhận xét.

1. Về ngôn ngữ lập trình (NNLT)

Có 3 loại NNLT

– NN máy: các lệnh được mã hoá 0,1

– Hợp ngữ: các lệnh mã hoá băng tiếng Anh.

– NN bậc cao: gần với ngôn ngữ tự nhiên

NNLT là 1 phần mềm dùng để diễn đạt thuật toán thành 1 chương trình giúp cho máy tính hiểu được thuật toán đó.

2. Khái niệm lập trình:

Lập trình là việc sử dụng cấu trúc dữ liệu và các lệnh của một NNLT cụ thể để mô tả dữ liệu và diễn đạt cá thao tác của thuật toán.

3. Chương trình dịch:

Chương trình dịch là một chương trình có chức năng chuyển đổi một chương trình được viết bằng NNLT bậc cao thành một chương trình có thể được thể hiện trên máy.

Có 2 loại chương trình dịch

– Thông dịch: Lần lượt dịch và thực hiện từng lệnh 1.

– Biện dịch: kiểm tra, phát hiện lỗi và dịch toàn bộ chương trình nguồn thành 1 chương trình có thể thực hiện trên máy

Khái Niệm, Vai Trò Và Quá Trình Phát Triển Của Marketing / 2023

Thuật ngữ marketing được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1902 trên giảng đường trường Đại học Michigan ở Mỹ, đến năm 1910, tất cả các trường Đại học tổng hợp ở Mỹ bắt đầu giảng dạy môn học này. Suốt trong gần nửa thế kỷ, marketing chỉ được giảng dạy trong phạm vi các nước nói tiếng Anh. Mãi đến sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, vào những năm 50 và 60 của thế kỷ XX, nó mới được truyền bá sang Tây Âu và Nhật Bản. Quá trình quốc tế hoá của marketing đã phát triển rất nhanh. Ngày nay, các doanh nghiệp muốn kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao đều cần phải có sự hiểu biết và vận dụng marketing hiện đại.

– Định nghĩa tổng quát về marketing của Philip Kotler: Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi.

Định nghĩa này bao trùm cả marketing trong sản xuất và marketing xã hội. Để hiểu rõ hơn về định nghĩa trên, chúng ta nghiên cứu một số khái niệm:

Nhu cầu (Needs): là một cảm giác về sự thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Ví dụ: nhu cầu ăn, uống, đi lại, học hành, giải trí… Nhu cầu này không phải do xã hội hay người làm marketing tạo ra, Chúng tồn tại như một bộ phận cấu thành của con người.

Mong muốn (Wants) là sự ao ước có được những thứ cụ thể để thoả mãn những nhu cầu sâu xa. Mong muốn của con người không ngừng phát triển và được định hình bởi các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội… như trường học; nhà thờ, chùa chiền; gia đình, tập thể và các doanh nghiệp kinh doanh. Mong muốn đa dạng hơn nhu cầu rất nhiều. Một nhu cầu có thể có nhiều mong muốn. Các doanh nghiệp thông qua hoạt động marketing có thể đáp ứng các mong muốn của khách hàng để thực hiện mục tiêu của mình.

Trao đổi là hành vi nhận từ một người hoặc một tổ chức nào đó thứ mà mình muốn và đưa lại cho người hoặc tổ chức một thứ gì đó.

Trao đổi là quá trình, chỉ xảy ra khi có các điều kiện:

– Ít nhất phải có hai bên, mỗi bên phải có một thứ gì đó có thể có giá trị với bên kia

– Mỗi bên đều có khả năng giao dịch và chuyển giao hàng hoá, dịch vụ hoặc một thứ gì đó của mình

– Mỗi bên đều mong muốn trao đổi và có quyền tự do chấp nhận hay khước từ đề nghị của bên kia, hai bên thoả thuận được những điều kiện trao đổi.

“ Marketing là quá trình xác định tham gia và sáng tạo ra nhu cầu mong muốn tiêu thụ sản phẩm và tổ chức tất cả nguồn lực của công ty nhằm làm hài lòng người tiêu dùng để đạt được lợi nhuận hiệu quả cho cả công ty và người tiêu dùng” (G. F. Goodrich ).

Nói chung có rất nhiều quan niệm về Marketing tuy nhiên chúng ta có thể chia làm hai quan niệm đại diện, đó là quan niệm truyền thống và quan niệm hiện đại.

Quan niệm Marketing hiện đại: Là chức năng quản lý công ty về mặt tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh, từ việc phát hiện ra và biến sức mua của người tiêu thụ thành nhu cầu thật sự về một sản phẩm cụ thể, đến việc chuyển sản phẩm đó tới người tiêu thụ một cách tối ưu

Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác.

Khái niệm marketing nên được biểu hiện rõ sự chỉ dẫn hướng đến con đường lập kế hoạch, giúp doanh nghiệp phân tích, cực đại hoá lợi nhuận và làm thoả mãn nhu cầu tiêu thụ sản phẩm. Doanh nghiệp cũng cần quan tâm đến những điểm mạnh và những điểm yếu của nó trong các lĩnh vực chức năng hoạt động khác như:sản xuất, tài chính, kỹ thuật và nhân sự. Các kế hoạch marketing cần phải tạo cân bằng các mục tiêu, nhu cầu tiêu thụ và khả năng nguồn lực của doanh nghiệp

Muốn thành công trong kinh doanh, các doanh nghiệp và các nhà kinh doanh cần hiểu biết cặn kẽ về thị trường, về những nhu cầu và mong muốn của khách hàng, về nghệ thuật ứng xử trong kinh doanh.

Ngày nay, các doanh nghiệp phải hoạt động trong một môi trường cạnh tranh quyết liệt và có những thay đổi nhanh chóng về khoa học – công nghệ, những đạo luật mới, những chính sách quản lý thương mại mới và sự trung thành của khách hàng ngày càng giảm sút. “Các công ty đang phải chạy đua với nhau trên một tuyến đường với những biển báo và luật lệ luôn thay đổi, không có tuyến đích, không có chiến thắng vĩnh cửu. Họ buộc phải không ngừng chạy đua và hy vọng là mình đang chạy theo đúng hướng mà công chúng mong muốn”.

Marketing áp đặt rất mạnh mẽ đối với lòng tin và kiểu cách sống của người tiêu dùng. Vì thế, hững người kinh doanh tìm cách để làm thoả mãn nhu cầu mong muốn của người tiêu dùng, tạo ra những sản phẩm và dịch vụ với mức giá cả mà người tiêu dùng có thể thanh toán được.

Các thời kỳ phát triển của marketing

Nguồn gốc của Marketing được lần theo việc sử dụng ngay từ ban đầu của con người đối với quá trình trao đổi hàng hoá.

– Cyrus H.M.C Lormick (1809 – 1884) là người đầu tiên ở phương Tây nghiên cứu marketing rất kỹ lưỡng. Ông cho rằng marketing là một chức năng tập trung và thống nhất của các công ty thương mại là một công việc đặc biệt của quản lý nhằm tìm ra và thu hút khách hàng. Ông đã sáng tạo ra những công cụ cơ bản của marketing hiện đại như: nghiên cứu và phân biệt thị trường, nội dung và cơ cấu của thị trường, chính sách giá cả, chính sách bán hàng, xúc tiến bán hàng, tín dụng,…

– Năm 1905, W.E.Krensi đã dạy một khoá marketing các sản phẩm ở trường Đại học Tổng hợp Pennsylvania (Mỹ).

– Năm 1910, Ralph Star Butler đã dạy một khoá ” Phương pháp Marketing” ở trường đại học tổng hợp Wisconsin (Mỹ).

– Marketing đúng theo ý nghĩa của nó xuất hiện từ những năm đầu của thế kỷ 20 ở Mỹ, phát triển từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1932, đặc biệt sau chiến tranh thế giới thứ hai.

Trong những năm 30 và 40 của thế kỷ 20, marketing và những vấn đề của nó đã xuất hiện ở châu Âu. Nhiều cơ sở marketing được hình thành ở Anh, Đức và nhiều nước khác. Mục đích chính của Marketing trong giai đoạn này là hoàn thiện những phương pháp, kỹ thuật lưu thông hàng hoá. Chính vì vậy mà có một thời thương mại và marketing được sử dụng như những từ đồng nghĩa.

Sự phức tạp của sản xuất tiêu thụ sản phẩm trong những năm 50 và 60, cũng như sự cạnh tranh gay gắt của thị trường tư bản chủ nghĩa càng làm tăng vai trò, ý nghĩa của marketing trong quản trị kinh doanh. Hàng loạt viện khoa học, cơ sở marketing, văn phòng tư vấn được thành lập trong các công ty.

Vào những năm 70, trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhiệm vụ của marketing ngày càng phức tạp, lĩnh vực áp dụng marketing ngày được mở rộng. Nó không chỉ được sử dụng trong các xí nghiệp, công ty, mà còn được sử dụng trong quản lý toàn bộ xã hội tư bản. Nhiệm vụ chủ yếu của marketing trong giai đoạn này là đảm bảo đến mức cao nhất lợi nhuận độc quyền nhà nước, thông qua việc sử dụng hoạt động kinh doanh năng động và cụ thể của các xí nghiệp, công ty, tập đoàn.

Khái quát lại, sự phát triển của marketing đã phải trải qua nhiều giai đoạn để cuối cùng đưa đến hệ thống marketing được hình thành vững chắc hơn trong thị trường cạnh tranh và được tóm tắt qua sơ dồ 3.1

Hoạt động bán hàng và những triết lý marketing

Sơ đồ 3.2 mô tả sự khác nhau giữa hoạt động bán hàng và triết lý marketing. Marketing tập trung vào sự phân tích người tiêu dùng và làm thoả mãn họ, tác động trực tiếp trong kinh doanh sử dụng nguồn tài nguyên để sản xuất ra những sản phẩm và dịch vụ mà khách hàng đòi hỏi, kích thích đến sự thay đổi của những đặc điểm và nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của người tiêu dùng. Dưới góc độ triết lý marketing, thì hoạt động bán hàng được sử dụng để nhằm tiếp cận người tiêu dùng và hiểu biết họ thêm. Thực vậy, vấn đề không hài lòng của người tiêu dùng sẽ đưa đến sự thay đổi trong chính sách của công ty từ đó mang lại doanh số bán hiệu quả hơn sau khi điều chỉnh.

Marketing tìm kiếm những sự khác nhau một cách rõ ràng trong thị hiếu người tiêu dùng và từ đó phát triển hoạt động làm thoả mãn họ. Marketing được định hướng cho thời gian dài, và mục tiêu được định ra nhằm làm tác động đến mục tiêu tổng thể của công ty. Sau cùng, Marketing xem xét nhu cầu người tiêu dùng ở phạm vi rộng hơn là phạm vi nhỏ hẹp.

Các Khái Niệm Marketing: 6 Khái Niệm Cốt Lõi Của Marketing / 2023

Thuật ngữ “marketing” đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau vì người ta nghĩ rằng khi các tình huống thay đổi, thuật ngữ này cũng phải thay đổi sao cho phù hợp theo thời gian. Do đó, chỉ trong một thời gian ngắn, một loạt các khái niệm về “marketing” đã xuất hiện.

Những khái niệm cốt lõi này là:

i. Nhu cầu, mong muốn và nhu cầu có khả năng chi trả

ii. Sản phẩm

iii. Giá trị và sự hài lòng

iv. Trao đổi, giao dịch và các mối quan hệ

v. Thị trường

vi. Marketer là khách hàng tiềm năng

Nhu cầu là khao khát hoặc ước muốn về sinh lý, tâm lý, an toàn, lòng tự trọng và được thể hiện mình. Nhu cầu sinh lý là nhu cầu cơ bản ở con người như thực phẩm, nơi ở, quần áo, tình dục; nhu cầu an toàn phát sinh khi cuộc sống của con người phải chịu những sự bất an cả trong tự nhiên và nhân tạo. Họ muốn được bảo vệ khỏi những tổn thất này khi họ thích sống tự do. Nhu cầu được tôn trọng là kết quả của sự cạnh tranh và đố kị.

Đương nhiên, mỗi người đều muốn nổi trội hơn người khác trong cuộc sống. Nếu người ta ăn cơm bình dân, người khác sẽ nghĩ đến cơm Dehradoon Basmati (một loại thực phẩm của người Ấn Độ); nếu một người có Maruti 800, thì người khác lại có Skoda; nếu người ta có đồ trang trí bằng vàng, người kia đang nghĩ đến bạch kim; nếu một người đi bằng xe hai bánh hoặc bốn bánh, người khác lại đi bằng máy bay và v.v. Cuối cùng, cũng là điều quan trọng nhất, có một số nhu cầu được gọi là nhu cầu được thể hiện mình.

Nhu cầu được thể hiện mình là những nhu cầu mang lại cho họ một vị thế độc nhất, hiếm có, chỉ vài người mới có được. Vì vậy, tất cả mọi người không thể đều là Ambanis, Jindal hay Mittals – những người có thành tích lớn lao và hiếm có. Đa số mọi người đều chiến đấu cho nhu cầu sinh lý, tiếp đó là nhu cầu an toàn, thấp hơn là nhu cầu được tôn trọng và thấp nhất là nhu cầu được thể hiện mình.

Mong muốn là sự ao ước có được những thứ cụ thể để thoả mãn những nhu cầu sâu xa hơn đó. Trong thuật ngữ marketing, mong muốn nghĩa là nhu cầu cộng với khả năng chi trả. Nghĩa là nhu cầu là vô kể, còn mong muốn là có hạn. Ví dụ, nếu bạn hỏi một người là “anh có muốn ăn xoài không? Nếu chúng có sẵn, anh ta sẽ nói hãy dành hai quả cho tôi và ba quả cho cha tôi trên thiên đường”

Mong muốn là cái gì đó được chọn từ nhu cầu. Nếu đó là câu hỏi về ‘nhu cầu’, mọi người sẽ nói “Tôi cần cái này và cái kia; nếu đó là mong muốn; anh ấy nói tôi muốn điều này. Bằng cách đó, cả nhu cầu và mong muốn đều có rất nhiều; tuy nhiên, mức độ mong muốn ít hơn so với mức độ nhu cầu.

Tuy nhiên, khi chúng ta nói mãi về những mong muốn thay vì nhu cầu, những mong muốn đang trở nên đa dạng hơn để lựa chọn vì sự lựa chọn không chỉ là ước muốn. Vì vậy, nhu cầu có thể là thực phẩm, nơi ở và quần áo.

Trong trường hợp những nhu cầu này được chuyển đổi thành mong muốn – hãy đa dạng hóa nó. Thức ăn có thể là roti, chapatti, bánh mì, Nan, burgers, cutlets, pizza, idli, dosa, trứng tráng, nhiều loại như thịt gà, thịt cừu, thịt, thịt xông khói, xúc xích, thạch và nhiều thứ khác. Trong trường hợp là nơi ở, nó có thể túp lều, nhà tranh, nhà gỗ 1 tầng, trang trại, tòa nhà và những thứ khác. Với quần áo, nó có thể là áo sơ mi, quần, cà vạt, quần đùi, đồ lót, saris, váy, váy dài maxi, medies, minies, hot pants, quần sooc lửng, v.v.

Nhu cầu có khả năng chi trả

Khi nhu cầu phát sinh, mong muốn hiện lên, thì yêu cầu cũng được sinh chúng tôi cầu có khả năng thanh toán là khi một người sẵn sàng mua một sản phẩm và có khả năng trả tiền cho nó. Nhu cầu có khả năng chi trả là biểu hiện của nhu cầu được hỗ trợ bởi sức mua của họ. Do đó, có sự khác biệt giữa nhu cầu, mong muốn và nhu cầu có khả năng chi trả.

Nhu cầu là một ước muốn đơn giản, mong muốn là một nhu cầu được lựa chọn khi họ thực sự quan tâm và nhu cầu có khả năng chi trả là một cam kết rõ ràng. Với mỗi món hàng, nó có thể là nhu cầu của người này, mong muốn của người kia và nhu cầu có khả năng chi trả của một người khác nữa.

Vì vậy, một người đàn ông giàu có nhu cầu có khả năng chi trả là một chiếc xe Mersedes sang trọng nhưng nó chỉ là một mong muốn cho người trung lưu và chỉ là nhu cầu của một người nghèo. Ví dụ này minh họa cho câu nói. “Nếu, ước muốn là những chú ngựa, mọi người sẽ không ngại mà cưỡi chúng.”

Tiền không được trồng trên cây mặc dù nó được gọi là cây tiền. Nơi mà mọi người sẽ lấy tiền và mua bất cứ thứ gì họ muốn.

2. Sản phẩm (Marketing Offer)

‘Sản phẩm’ (Marketing Offer) là thứ mà tổ chức marketing hoặc những nhà marketer thực hiện theo yêu cầu của người tiêu dùng. Đây là viết tắt của một sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng về chất lượng, số lượng, thời gian, giá cả, tính đồng đều, v.v. Sản phẩm có thể là “hữu hình” hoặc “vô hình”.

‘Sản phẩm hữu hình’ là một sản phẩm có thể nhìn thấy, hữu hình, được thử nghiệm, nếm thử bởi các giác quan. Sản phẩm vô hình là một dịch vụ không nhìn thấy, vô hình, không di động, có sự hiện diện thực tế tại một thời điểm và địa điểm. Các sản phẩm có thể được phân loại thành hàng hóa tiêu dùng và hàng hóa tư liệu sản xuất.

Với hàng hóa tư liệu sản xuất, con người và công nghệ đóng vai trò mạnh mẽ. Một lần nữa, những hàng hóa tư liệu sản xuất này có thể là hàng tiêu dùng bền vững và hàng tiêu dùng không bền vững, hay còn được gọi là để tiêu thụ cuối cùng. Vì vậy, quạt, tủ lạnh, điện thoại, tủ đựng cốc là bền vững và bánh quy, pizza, kem đánh răng, kem tóc, dầu, đánh bóng vàv.v.. là hàng tiêu dùng không bền vững.

Với hàng hóa tiêu dùng, thiên nhiên đóng vai trò quan trọng hơn cả mặc dù công nghệ cũng rất quan trọng. Đó là những sản phẩm nông nghiệp như: sữa, trứng, rau, trái cây, bơ, thị gà, thịt cừu, thịt xông khói, thịt bò, mật ong, v.v…

Nhắc lại thêm, hàng hóa tư liệu sản xuất có thể là “công nghiệp” trái ngược với tiêu dùng. Hàng hóa công nghiệp là các mặt hàng lắp đặt và thiết bị, dụng cụ cầm tay, cung cấp cả dịch vụ văn phòng và nhà máy và dịch vụ bảo trì.

Việc tung ra sản phẩm thị trường phải đáp ứng kỳ vọng của người tiêu dùng là một giá trị thực sự cho lợi ích chi phí tối đa với mức giá hợp lý.

3. Giá trị và sự hài lòng của người tiêu dùng

Giá trị được nhìn từ góc độ của khách hàng, là năng lực của một sản phẩm hoặc dịch vụ mà từ đó người tiêu dùng có được mức độ hài lòng nhất định.

Một giá trị được đánh giá bởi mức độ hài lòng. Do đó, nếu mức độ hài lòng thấp, điều đó có nghĩa là sản phẩm có giá trị thấp đối với người tiêu dùng và ngược lại.

Sự hài lòng là một trạng thái tâm lý và không thể đo lường vì nó không định lượng được. Ở đây, khái niệm về chi phí rất phù hợp. Cả nhà sản xuất và người tiêu dùng đều quan tâm đến chi phí.

Ví dụ, một mặt hàng được cung cấp miễn phí hoặc mặt hàng đó rất dễ mua, giá cả phải chăng thì mọi người sẽ chớp lấy cơ hội mua ngay mà nếu không thì sẽ do dự khi mua nó nếu giá trở nên không thể chấp nhận hoặc cắt cổ.

Ở đây, người ta có thể xác định ‘chi phí’ cho người tiêu dùng là giá trị bằng tiền của những gì được mua. Trong thực tế, nó là một vấn đề lớn đang được xem xét trong marketing bởi vì nó có nghĩa là một sự hy sinh của một số sự thay thế hoặc những phần khác của người tiêu dùng.

Lấy ột ví dụ khi người cha đang có ý định mua một chiếc xe hơi.

Trong khi người con trai nghĩ đến việc tham gia một khóa học thạc sĩ về quản lý thanh toán. Cả xe hơi và khóa học đều tốn kém, nhưng chi phí của người cha chỉ cho phép xe hơi hoặc khóa học.

Trong trường hợp này, người cha phải bỏ ý tưởng mua hàng của mình để hỗ trợ giáo dục đại học cho con trai có bảo đảm việc làm với mức lương cao. Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, sự hài lòng được đo lường theo Nhu cầu, mong muốn và nhu cầu có khả năng chi trả của người tiêu dùng.

4. Trao đổi, giao dịch và mối quan hệ

Trao đổi là cơ sở rất cơ bản của marketing. Trong thực tế, một cái tên khác để gọi thuật ngữ “trao đổi” là marketing. Các nhà sản xuất hàng tiêu dùng và vật liệu sản xuất đang cung cấp tất cả các loại hàng hóa cần thiết cho xã hội theo độ tuổi theo trọng lượng đến chất lượng, giá cả, địa điểm, thời gian, tính đồng đều và v.v.

Trừ khi, chúng được trao đổi thành tiền hoặc giá trị của tiền bạc, thì điều đó không có nghĩa gì cả. Nếu trao đổi không diễn ra, sự chồng chất hàng tồn kho sẽ diễn ra, ảnh hưởng xấu đến toàn bộ cơ chế sản xuất và phân phối vì nó không phù hợp với tiêu thụ.

Nếu Công ty ô tô Toyota sản xuất 2.000 xe hơi mỗi ngày và không được trao đổi hoặc bán, Công ty Toyota phải hài lòng với việc tích trữ sẵn. May mắn thay, 2.000 xe hơi, tiêu thụ 700 chiếc xe mỗi ngày trên đất Mỹ và 1.300 chiếc còn lại trên toàn thế giới. Do đó trao đổi là một quá trình diễn ra sự cung cấp và thực hiện kiểm soát giá cả.

Nếu nhà sản xuất tặng quà miễn phí, quyên góp, từ thiện, nó không còn được gọi là trao đổi. Thêm nữa, nếu người ta lấy những thứ từ nhà máy riêng, trang trại riêng, khu vườn riêng, nó cũng không tạo ra sự trao đổi. Nếu một người đàn ông kinh doanh dự trữ hàng hóa để bán ở một mức giá, không được xem là trao đổi nếu anh ta cung cấp hàng hóa cho các thành viên gia đình và bạn bè của mình miễn phí.

Giao dịch là sự thỏa thuận diễn ra giữa các bên của sàn giao dịch là người mua và người bán.

Người bán đã sẵn sàng với lượng hàng hóa để cung cấp và người mua đã sẵn sàng với số tiền cần thanh toán. Các thỏa thuận hoặc giao dịch này có thể là tiền mặt hoặc tín dụng. Trong những sự cạnh tranh khốc liệt ngày nay, các giao dịch tiền mặt tạo thành một phần nhỏ trong tổng số giao dịch.

Một số công ty bán hàng hóa với tổng tiền trả bằng tín dụng lên mức 90%, trong khi tiền mặt chỉ chiếm 10%.

Ngày nay, kinh doanh càng được mở rộng, càng nhiều người mua hàng hóa và dịch vụ bằng thẻ tín dụng. Quy tắc không phải là “tiền trao cháo múc”, mà là “mua trước trả sau”. Vì vậy, mua một chiếc xe hơi, căn hộ hoặc nhà, hay học phí hoàn toàn nằm trong tầm với của tầng lớp trung lưu và cả tầng lớp thấp hơn. Khái niệm “EMI” đã giúp tất cả mọi người có thể thực hiện mọi điều ngay bây giờ và trả tiền sau.

Các mối quan hệ

Các mối quan hệ là mối quan hệ kinh doanh liên kết và lâu dài dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau giữa tổ chức marketing và đặc biệt là khách hàng lâu dài. Trong thực tế, vấn đề về sự thu hút và chăm sóc khác hàng dài lâu không hề đơn giản. Luôn nhớ một câu sau:” Khách hàng là thượng đế”

Khách hàng luôn được đảm bảo hạnh phúc nhờ sự hài lòng về mặt chất lượng, giá cả, thời gian, số lượng, lượng cung thường xuyên.

Một khi khách hàng hiểu được rằng nhà marketer luôn quan tâm đến mình trong mọi hoàn cảnh, anh ấy xây dựng thiện chí với công ty; giới thiệu với bạn bè và người thân của mình, từ đó góp phần tăng trưởng khách hàng cho công ty.

Trong trường hợp khách hàng không hài lòng, nó giống như một quả xoài hỏng, anh ta làm cho các loại xoài khác cũng bị hỏng theo. Đó là lý do tại sao mối quan hệ marketing đã trở thành một khía cạnh chuyên biệt của marketing hiện đại, tin tưởng vào việc xây dựng quan hệ đối tác lâu dài với khách hàng cho lòng trung thành lâu dài hơn.

5. Thị trường

Như đã đề cập trước đó, thị trường không nhất thiết phải là một địa điểm. Thị trường gồm người mua và người bán gặp trực tiếp hoặc họ liên lạc với nhau để có thông tin chi tiết về những gì người bán phải cung cấp và những gì người mua sẵn sàng mua. Nó là một cơ chế tạo điều kiện cho việc định giá một cách dễ dàng và nhanh chóng vì lợi ích chung của người mua và người bán, sự hiện diện vật chất của hàng hóa và con người tại một thời điểm không phải là thị trường.

Các lực lượng trao đổi và kiểm soát giá diễn ra dễ dàng và nhanh chóng đại diện cho thị trường. Thị trường ‘là điểm khởi đầu bởi vì marketing theo sau nó. Đó là lưu lượng hàng hóa từ người bán đến người mua và tiền hoặc giá trị của tiền theo người mua giúp tiếp cận người bán để hoàn tất việc trao đổi.

Thị trường được phân loại theo một số cách đã được đề cập ở đầu chương.

6. Marketer và khách hàng tiềm năng

Marketer

Họ không sản xuất nhưng mua từ các nhà sản xuất hàng tiêu dùng và vật liệu công nghiệp và bán cho người mua hoặc để tiêu thụ cuối cùng hoặc để chế biến và bán tiếp.

Khách hàng tiềm năng

Người cộng sự của thị trường và marketing là khách hàng tiềm năng. Nếu chỉ có các marketer (người bán) hoặc chỉ có khách hàng tiềm năng, thì nó sẽ không thể tạo thành một thị trường được. Marketer ở đó vì có khách hàng tiềm năng. Nếu không thì không có ai để mua hàng hóa và dịch vụ.

Marketer sẽ làm gì? Đó là lý do tại sao khách hàng tiềm năng là người tiêu dùng và họ đang ở vị trí của thượng đế hoặc ở một hệ thống marketing. Khách hàng tiềm năng là người hoặc tổ chức sẵn sàng mua và thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ. Khách hàng không hủy hoại các marketer bởi vì chúng ta hiểu rằng không thể “vỗ tay chỉ với một bàn tay.”

Marketing Mix 7P Là Gì? Khái Niệm &Amp; Các Loại Quy Trình / 2023

Các nhà tiếp thị cần đảm bảo rằng tất cả các quy trình này được kiểm soát chặt chẽ và trải nghiệm khách hàng nhất quán sẽ được đảm bảo bởi họ. Tất cả những điều này thường được viết trong các tài liệu SOP còn được gọi là tài liệu Quy trình hoạt động tiêu chuẩn.

Một quy trình lý tưởng nên dành ít thời gian nhất trong số tất cả các tùy chọn có sẵn và chi phí thấp hơn cho công ty sẽ cung cấp và đầu ra hiệu quả đến mức tối đa công suất.

Hỗn hợp tiếp thị có thể được thay đổi tùy thuộc vào phản hồi nhận được.

Giữ chân khách hàng và mở rộng sản phẩm được đánh dấu cho họ ở mỗi giai đoạn.

Tùy thuộc vào nhu cầu và mong muốn của các cá nhân khác nhau, quá trình có thể được trân trọng trong chính nó giúp họ trải nghiệm một dịch vụ tương tự.

Có ba yếu tố cơ bản trong quy trình là đầu vào, thông lượng và đầu ra. Các loại quy trình khác nhau trong hỗn hợp tiếp thị. Ví dụ, các quy trình công nghệ được sử dụng trong sản xuất hàng hóa . Ví dụ, quy trình sản xuất xe Phantom của Rolls-Royce được điều chỉnh theo yêu cầu của từng khách hàng. Một ví dụ khác là một điểm bán hàng điện tử quét điện thoại khi thanh toán.

Quá trình bao gồm trong giám đốc và các hoạt động trực tiếp. Mặc dù người ta thấy rằng các hoạt động trực tiếp đảm bảo tăng thêm giá trị cho giao diện của khách hàng vì trải nghiệm của khách hàng là dịch vụ trong trường hợp hoạt động gián tiếp còn được gọi là hoạt động văn phòng hỗ trợ, đây không phải là trường hợp. Trong trường hợp các hoạt động gián tiếp, đảm bảo hỗ trợ các hoạt động trực tiếp của dịch vụ trước và sau khi nó được tiêu thụ.

Quá trình này được coi là một cái gì đó trong đó khách hàng tiềm năng tham gia vào quá trình tại các điểm khác nhau.

Các loại quy trình

1) Quy trình công nghệ:

Quá trình tạo ra các sản phẩm hữu hình được gọi là quy trình công nghệ. Các mục tiêu để đảm bảo rằng khách hàng cảm thấy sản phẩm là của họ. Nhà sản xuất nên đảm bảo rằng anh ta tạo ra sản phẩm mà khách hàng mong muốn và cũng nên tạo ra những sản phẩm mà anh ta là một doanh nhân muốn bán trên thị trường. Sự cân bằng giữa cả hai sẽ đảm bảo rằng quy trình công nghệ sẽ chạy trơn tru.

2) Quy trình điện tử:

Sử dụng biên lai hoặc mã vạch hoặc biểu mẫu hoặc các phương pháp thông tin khác về một sản phẩm cụ thể của một công ty sản xuất chúng được gọi là một quy trình điện tử. Điều này cũng bao gồm khóa học được sử dụng để quét với sự trợ giúp của ứng dụng sử dụng điện thoại di động.

3) Hoạt động trực tiếp:

4) Hoạt động gián tiếp:

Khi sự tương tác không diễn ra trực tiếp và nó xảy ra trước hoặc sau khi sản phẩm đã được mua được gọi là một hoạt động gián tiếp.

Quá trình trộn

Các quá trình trong một cái gì đó như một công cụ để tạo ra một cái gì đó to lớn hoặc hoành tráng. Ví dụ: sự kết hợp giữa tiếp thị qua điện thoại và tiếp thị internet được sử dụng để quảng bá một dịch vụ hoặc sản phẩm nhất định đến nhóm khách hàng mục tiêu.

1) Quy trình làm việc:

Quy trình công việc có thể tuần tự là bước do đó chỉ bắt đầu khi bước trước hoàn thành hoặc song song đó là nhiều bước có thể xảy ra cùng một lúc. Các quy trình công việc đơn lẻ có thể được kết hợp theo nhiều cách để có một quy trình tổng thể.

2) Tái cấu trúc quy trình kinh doanh:

Tái cấu trúc quy trình kinh doanh thường được viết tắt là BPR là một phương tiện để nâng cao hoặc cải thiện hiệu quả của tổ chức cùng với năng suất của nó. Nó bao gồm bắt đầu ngay từ đầu hoặc từ đầu và tạo ra một quy trình kinh doanh lớn cùng với việc ứng dụng CNTT hoặc công nghệ thông tin để đạt được sự cải thiện đáng kể về hiệu suất.

3) Quản lý quy trình kinh doanh:

4) Tổng quản lý chất lượng:

Thường được viết tắt là TQM, quản lý chất lượng toàn diện được tìm kiếm để cải thiện chất lượng sản phẩm. Sáu phương pháp sigma đã được Motorola sử dụng để tìm hiểu về quản lý chất lượng toàn diện.

Nó bao gồm các phương pháp để cải thiện các quy trình trong doanh nghiệp và do đó giảm các vấn đề trong đầu ra làm tăng sản lượng và từ đó tối đa hóa lợi nhuận.

Vai trò của công nghệ thông tin trong quá trình

Công nghệ thông tin đã được phát triển trong vài năm qua và đã thay đổi hoàn toàn các quy trình từ bên trong. Các doanh nghiệp trước đây có hoạt động thủ công nhưng bây giờ hầu như mọi thứ đều được tự động hóa.

Viết từ lưu trữ dữ liệu cho đến khi các chức năng kinh doanh hầu hết mọi thứ được tự động hóa để tăng sản lượng và tối đa hóa chia sẻ. Quản lý quy trình làm việc SAP, PeopleSoft, Oracles là một vài trong số các phần mềm đã được giới thiệu trong kinh doanh nhằm giúp cho việc quản lý quy trình công việc hiệu quả hơn.

Mô hình tạo động lực kinh doanh (BMM) và ký hiệu mô hình hóa quy trình kinh doanh (BPMN) được sử dụng rộng rãi để chuẩn hóa mô hình hóa kinh doanh. Công nghệ đám mây một lần nữa trở thành một phần không thể thiếu của hầu hết các doanh nghiệp cùng với sự gia tăng của phương tiện truyền thông xã hội, sử dụng công nghệ di động và các kỹ thuật phân tích khác.

Phương tiện truyền thông xã hội là kênh mới nhất mà qua đó khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp cho dù doanh nghiệp là phân phối gián tiếp hay phân phối gián tiếp. Điều này giúp các công ty nghe về sự bất bình của khách hàng và giải quyết cho họ người lãnh đạo hiệu quả bằng cách cho phép quá trình hiệu quả hơn.

Nguồn: dịch từ marketing 91

Minh Phương- ATP Software