Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Từ Dịch Nghĩa Hán Việt Là Gì Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Like | Sieuphampanorama.com

Từ Hán Việt Là Gì? Những Từ Hán Việt Hay Và Ý Nghĩa

Soạn Bài : Từ Hán Việt

Hướng Dẫn Cách Dùng Hàm Iferror Trong Excel Qua Ví Dụ Cụ Thể

Hàm Iferror Trong Excel Là Gì Và Cách Sử Dụng Như Thế Nào?

Hàm If, Lồng Ghép Hàm If Với Nhiều Điều Kiện, Iferror, Ifna Và Nhiều Hơn Nữa

Hàm Sumproduct Trong Excel: Nâng Cao & Nhiều Điều Kiện (Pro Excel)

Từ Hán Việt là gì?

Từ Hán Việt là từ ngữ trong tiếng Việt vay mượn, có nghĩa gốc từ tiếng Hán (Trung Quốc). Các từ Hán Việt được ghi bằng chữ cái La tinh, phát âm phù hợp với mặt ngữ âm tiếng Việt. Tuy nhiên, khi phát âm từ Hán Việt, có thể thấy âm thanh gần giống với tiếng Trung Quốc.

Sự vay mượn của tiếng Việt giúp ngôn ngữ Việt Nam thêm phần phong phú, đồng thời vẫn giữ gìn được sự trong sáng của tiếng Việt.

Trong kho tằng từ Hán Việt, người ta đã nghiên cứu và phân loại thành 3 nhóm đó là từ Hán Việt cổ, từ Hán Việt và từ Hán Việt Việt Hoá.

Từ Hán Việt cổ

Từ Hán Việt cổ là những từ có nguồn gốc khá lâu đời. Những từ này bắt nguồn từ tiếng Hán trước thời Nhà Đường. Những từ này có phát âm gần như giống hoàn toàn với tiếng Trung.

Từ Hán Việt

Những từ Hán Việt này ra đời sau giai đoạn mà từ Hán Việt cổ xuất hiện và được dùng. Những từ này có nguồn gốc từ giai đoạn thời nhà Đường cho tới đầu thế kỷ 10.

Từ Hán Việt Việt hoá

Các từ Hán Việt không nằm trong 2 trường hợp trên được xem là từ Hán Việt Việt Hoá. Những từ này có quy luật biến đổi ngữ âm rất khác, nhưng vẫn dựa trên cơ sở âm điệu và ý nghĩa chữ Hán.

THIÊN: Trời; ĐỊA: Đất; CỬ: Cất; TỒN: Còn; TỬ: Con; TÔN: Cháu; LỤC: Sáu; TAM: Ba; GIA: Nhà; QUỐC: Nước; TIỀN: Trước; HẬU: Sau; NGƯU: Trâu; MÃ: Ngựa; CỰ: Cựa; NHA: Răng; VÔ: Chăng; HỮU: Có; KHUYỂN: Chó; DƯƠNG: Dê; QUY: Về; TẨU: Chạy; BÁI: Lạy; QUỴ: Quỳ; KHỨ: Đi; LAI: Lại; NỮ: Gái; NAM: Trai; QUAN: Mũ; TÚC: Đủ; ĐA: Nhiều; ÁI: Yêu; TĂNG: Ghét; THỨC: Biết; TRI: Hay; MỘC: Cây; CĂN: Rễ; DỊ: Dễ; NAN: Khôn (khó); CHỈ: Ngon; CAM: Ngọt; TRỤ: Cột; LƯƠNG: Rường; SÀNG: Giường; TỊCH: Chiếu; KHIẾM: Thiếu; DƯ: Thừa; CÚC: Cuốc; CHÚC: Đuốc; ĐĂNG: Đèn; THĂNG: Lên; GIÁNG: Xuống; ĐIỀN: Ruộng; TRẠCH: Nhà; LÃO: Già; ĐỒNG: Trẻ; TƯỚC: Sẻ (chim Sẻ) ; KÊ: Gà

Outsource là gì? Ưu nhược điểm của Outsource ? Có nên… Tôn trọng (respect) là gì? Ý nghĩa và vai trò của… Chân lý (Truth) là gì? Ý nghĩa của chân lý trong…

Homestay Là Gì? 8 Lý Do Nên Chọn Homestay Thay Cho Khách Sạn

Homestay Là Gì? Xu Hướng Du Lịch Mới Cho Giới Trẻ

Homestay Là Gì? Hiểu Để Kinh Doanh Thành Công Dịch Vụ Này

Kinh Doanh Homestay Cần Bao Nhiêu Tiền, Thủ Tục Giấy Phép Đăng Ký?

Homestay Là Gì? Hiểu Thế Nào Cho Đúng Và Đầy Đủ Về Homestay?

Hán Việt Và Việc “Việt Hóa” Từ Gốc Hán Để Tạo Thành Từ Hán Việt

Tiết Lộ Ý Nghĩa Thú Vị Câu Chúc Khai Trương Hồng Phát

Bàn Về Hai Chữ Giang, Hà Và Bài Thơ Hán Quảng Trong Kinh Thi

Tản Mạn Về Chữ Kim – Tống Phước Hiệp Vĩnh Long

Nên Dùng Từ “Thập Niên”, Không Dùng “Thập Kỷ”

Mạo Trong “đình Chùa Miếu Mạo” Nghĩa Là Gì?

HÁN VIỆT VÀ VIỆC “VIỆT HÓA” TỪ GỐC HÁN ĐỂ TẠO THÀNH TỪ HÁN VIỆT

* Ngô Thị Minh Nguyệt – K7 ĐHTH

1. Đặt vấn đề

Từ Hán Việt là một đề tài được bàn luận từ rất lâu nhưng luôn là vấn đề thời sự nóng bỏng. Bởi lẽ, ngoài tư cách là đối tượng nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học thì đó còn là một hiện tượng liên qua đến việc giao tiếp hàng ngày vì thế được nhiều người quan tâm. Việc dùng từ Hán Việt như thế nào được gọi là đúng, thế nào là sai không phải là vấn đề đơn giản. Trong các nội dung được đem ra tranh luận về từ Hán Việt, không ít người thắc mắc sự sai lệch ngữ nghĩa của từ Hán nguyên gốc và từ Hán Việt. Liệu có phải ai thông thuộc tiếng Hán thì cũng biết cách sử dụng từ Hán Việt một cách chính xác hay không? Đó là vấn đề mà bài viết này muốn đề cập đến.

2.     Sự sai lệch giữa nghĩa tiếng Hán nguyên gốc và nghĩa từ Hán Việt

Từ Hán Việt là một hiện tượng phức tạp. Nó là kết quả của quá trình giao lưu và tiếp xúc ngôn ngữ giữa hai dân tộc Hán và Việt trong nhiều thế kỷ. Do những nguyên nhân lịch sử và địa lý đặc biệt, cuộc tiếp xúc ngôn ngữ của hai thứ tiếng này có những đặc trưng riêng khó tìm thấy ở các cuộc tiếp xúc ngôn ngữ khác. Bởi thế, tính chất, đặc điểm và cách sử dụng của từ Hán Việt cũng hoàn toàn khác với các loại từ cũng do tiếp xúc ngôn ngữ mà có, như: Hán – Nhật, Hán – Hàn, Hàn – Triều… Sự khác biệt ấy thể hiện trước hết ở phương diện, khối lượng từ Hán Việt trong kho từ vựng tiếng Việt là rất lớn (Theo các kết quả thống kê từ vựng học, trong một số phong cách chức năng, chẳng hạn, trong phong cách hành chính, số lượng từ Hán Việt lên tới 80 -85%). Thứ hai, quá trình xử lý các yếu tố gốc Hán (các từ gốc Hán) trong tiếng Việt cũng hoàn toàn khác với các ngôn ngữ khác trong vùng cùng có quan hệ tiếp xúc với tiếng Hán. Đây là những lý do khiến cho các nhà nghiên cứu không chỉ của Việt Nam mà ngay cả của Trung Quốc cũng phải thừa nhận: từ Hán Việt là một loại từ đặc biệt trong vốn từ vựng tiếng Việt. Nó là một loại từ ngữ đi vay mượn nhưng vay mượn không hoàn toàn.

Chẳng hạn, theo nghĩa tiếng Việt: từ “chung cư” là chỉ khu nhà bao gồm nhiều hộ dân sinh sống, bên trong chung cư bố trí các căn hộ khép kín cho các gia đình sinh sống. Theo nghĩa tiếng Hán: “chung cư” là nơi ở cuối cùng, tức là mồ chôn hay nghĩa địa. Giữa nghĩa tiếng Hán nguyên gốc và nghĩa tiếng Việt có sự khác nhau nhưng người Việt Nam vẫn luôn hiểu và dùng từ chung cư là khu nhà cho nhiều hộ dân sinh sống.

Từ Hán Việt là từ vựng sử dụng trong tiếng Việt có gốc từ tiếng Hán nhưng đọc theo âm tiếng Việt. Có nhiều người hiểu rằng từ Hán Việt được sử dụng theo nghĩa tiếng Hán và được người Việt mượn để dùng. Thực tế, đây là một cách hiểu máy móc. Khi xem xét nghĩa của từ Hán Việt, chúng ta không thể rập khuôn theo kiểu đối chiếu với nghĩa của từ Hán nguyên gốc. Đây là việc làm có phần cứng nhắc, dẫn đến việc làm mất đi tính năng động của từ Hán Việt với tư cách là một sự sáng tạo linh hoạt của người Việt Nam. Trên thực tế, các từ gốc Hán khi du nhập vào tiếng Việt hầu hết đã bị biến đổi do áp lực của cấu trúc tiếng Việt. Có nghĩa là, chỉ sau một thời gian, bản chất Hán của các từ này đã bị tiếng Việt đồng hóa để không còn cái vẻ nguyên dạng ban đầu. Hoặc là nó bị biến đổi về ngữ âm, hoặc là nó bị biến đổi về ngữ nghĩa theo cách tri nhận mới của người Việt Nam qua cái vỏ âm thanh ban đầu. Có thể dẫn ra vô số trường hợp để nói về điều này. Chẳng hạn, từ “hy sinh” trong tiếng Hán có nghĩa chỉ con vật dùng tế trời hoặc thần linh. Nhưng khi vào tiếng Việt, nó lại có ý nghĩa là  “chết vì một lý tưởng cao cả” hay “tự nguyện nhận về phần mình những thiệt thòi mất mát vì lợi ích chung của cộng đồng” (ví dụ: Các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh để bảo vệ tổ quốc.). Từ “khôi ngô”, từ Hán có nghĩa “to lớn”, còn từ Hán Việt lại có nghĩa “thông minh”. Khi mượn, ngôn ngữ đi vay mượn có thể thay đổi theo quy ước của mình để sử dụng cho phù hợp chứ không nhất thiết phải sử dụng nguyên xi.

3. Cách Việt hóa các từ gốc Hán để tạo thành từ Hán Việt

Người Việt đã Việt hóa các từ gốc Hán để tạo thành từ Hán Việt chủ yếu theo 3 con đường sau đây:

3.1. Thay đổi kết cấu

Phổ biến nhất là xu hướng rút gọn hàng loạt từ ghép thành từ đơn: văn (văn chương, văn học), lệnh (mệnh lệnh), đảm (đảm đương),hạn (kỳ hạn), điệu (yểu điệu), nghiệt (khắc nghiệt)… Không chỉ rút gọn, người Việt còn phát triển thành từ ghép Việt Nam theo công thức: từ Việt + từ Hán. Ví dụ: cảm mến, bao gồm, bày biện, bình bầu, biến đổi, bồi đắp, kỳ lạ, sống động…

Ngay cả những từ ghép mang gốc Hán hoàn toàn, khi trở thành từ Hán Việt thì đã đảo vị trí. Ví dụ: náo nhiệt (Hán: nhiệt náo), di chuyển (Hán: chuyển di), tố cáo (Hán: cáo tố), phóng thích (Hán: thích phóng)…

Bên cạn đó, còn có những từ ghép hoàn toàn mang gốc Hán, song người Việt thay hẳn một yếu tố nào đấy để dùng riêng: họa sĩ(Việt) – họa sư/họa công (Hán); tường tận – tường tế… Thậm chí, những kết cấu ngôn ngữ Hán rất ổn định, rất bền vững là thành ngữ, thì cũng phải thay đổi lúc trở thành thành ngữ Hán Việt. Những từ nằm trong ngoặc đơn ở các thí dụ sau là gốc Hán: tác oai tác quái (tác uy tác phúc), khẩu Phật tâm xà (Phật khẩu xà tâm), du thủ du thực (du thủ hiếu nhàn), thập tử nhất sinh (cửu tử nhất sinh), an phận thủ thường (an phận thủ kỹ), thượng lộ bình an (nhất lộ bình an)…

3.2. Thay đổi ngữ nghĩa

Với những từ ghép đa nghĩa, người Việt chỉ chọn một số ý nghĩa nào đấy mà thôi. Chẳng hạn từphù phiếm, ta chỉ dùng nghĩa bóng là “không thiết thực” mà không dùng nghĩa đen là “ngồi thuyền dạo chơi”. Nhiều trường hợp, khi vay mượn từ gốc Hán, người Việt chủ động phát triển thêm một vài nghĩa không có trong tiếng Hán. Từ Hánđinh ninhvốn có nghĩa “dặn dò”, lúc trở thành từ Hán Việt thì có thêm nghĩa mới là “yên trí”. Hoặc từbồi hồivốn có nghĩa “đi đi lại lại”, người Việt còn hiểu là “bồn chồn, lòng dạ không yên”.

Ngoài ra, khi mượn từ gố Hán, người Việt còn thay đổi hoàn toàn ý nghĩa: hình thức vay mượn, song ý nghĩa lại khác hoàn toàn. Như từ mê ly, từ Hán có nghĩa “mơ hồ, không rõ”, từ Hán Việt có nghĩa “rất hay, rất hấp dẫn”. Hoặclẫm liệt, từ Hán có nghĩa là “rét mướt”, từ Hán Việt có nghĩa “oai phong”.    

3.3. Thay đổi màu sắc tu từ

Thông thường, với hai từ đồng nghĩa (một từ Hán Việt và một từ thuần Việt), thì dùng từ Hán Việt mang tính trịnh trọng hơn, hoặc văn hoa hơn. Chẳng hạn: trường thọ/sống lâu; từ trần/chết; phụ nữ/đàn bà; nhi đồng/trẻ em; phu nhân/vợ; mẫu tử/mẹ con; …

Tuy nhiên, có những từ Hán Việt lại mang màu sắc tu từ trái ngược so với từ gốc Hán. Ví dụ: Dã tâmtrong tiếng Hán chỉ mang nghĩa “tham vọng”, song biến thành từ Hán – Việt thì có nghĩa “lòng dạ hiểm độc”. Đáo để vốn có nghĩa “đến tận đáy”, “đến cùng”, song trong ngôn ngữ Việt Nam lại là “riết róng, đanh đá”. Thủ đoạntiếng Hán có nghĩa “phương pháp, kỹ pháp”, song đối với chúng ta thì đây là từ chỉ “mưu mẹo, mánh khóe” theo nghĩa xấu.

4. Kết luận

Từ Hán Việt là một bộ phận đặc biệt hợp thành nên ngôn ngữ tiếng Việt. Bằng sự vay mượn mang tính sáng tạo Việt hóa gốc Hán để tạo thành từ Hán Việt đã, đang và sẽ làm giàu thêm ngôn ngữ của dân tộc.

          Ngôn ngữ suy cho cùng là để phục vụ cho quá trình giao tiếp, dù sử dụng với ý nghĩa gì thì mục đích cuối cùng cũng là để cho đối tượng giao tiếp hiểu vấn đề mà người giao tiếp muốn truyền tải. Ngôn ngữ chỉ có ý nghĩa khi được mọi người trong cộng đồng đó sử dụng và chấp nhận. Vậy thiết nghĩ, nếu từ Hán Việt sử dụng theo nghĩa nguyên gốc tiếng Hán nhưng người Việt không hiểu, không sử dụng và không chấp nhận thì ngôn ngữ đó còn có ý nghĩa gì nữa? Cách sử dụng từ Hán Việt của người Việt Nam chính là sự Việt hóa từ gốc Hán để tạo thành từ Hán Việt. Đây chính là sự tiếp thu văn hóa nói chung và ngôn ngữ nói riêng một cách có chọn lọc theo cách hòa nhập nhưng không hòa tan để giữ gìn, sáng tạo và phát huy ngôn ngữ của dân tộc mình.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Tài Cẩn (2001). Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.

2. Nguyễn Thiện Giáp (1996). Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giaos dục.

3. Ngôn ngữ Việt Nam (2013). Từ điển tiếng Việt, Nxb Hồng Đức.

4. Võ Ngân Vương (2012). Từ Hán Việt – Những khía cạnh Việt hóa, Tạp chí tài hoa trẻ.

5.https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%AB_H%C3%A1n-Vi%E1%BB%87t

6.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4n_ng%E1%BB%AF 

Xưng Hô Theo Lối Hán Việt Cổ Ngữ – Phần Mềm Viết Sớ – Phần Mềm Viết Sớ Hán Nôm

Cách Xưng Hô Tiếng Hán

Bố Chồng, Mẹ Chồng Gọi Là Gì?

Bạn Có Phân Biệt Được 3 Từ “sông” – 「川」「河」「江」?|Kênh Du Lịch Locobee

Học Hán Tự: Phân Biệt 3 Từ “Sông” – 「川」「河」「江」

Soạn Bài : Từ Hán Việt

Hướng Dẫn Cách Dùng Hàm Iferror Trong Excel Qua Ví Dụ Cụ Thể

Hàm Iferror Trong Excel Là Gì Và Cách Sử Dụng Như Thế Nào?

Hàm If, Lồng Ghép Hàm If Với Nhiều Điều Kiện, Iferror, Ifna Và Nhiều Hơn Nữa

Hàm Sumproduct Trong Excel: Nâng Cao & Nhiều Điều Kiện (Pro Excel)

Hướng Dẫn Cách Dùng Hàm Sumproduct Trong Excel Qua Ví Dụ

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài

1. Đơn vị cấu tạo từ Hán Việt

a) Trong bài thơ Nam quốc sơn hà, các tiếng Nam, quốc, sơn, hà nghĩa là gì? Trong các tiếng ấy, tiếng nào có thể dùng như một từ đơn để đặt câu? Cho ví dụ.

: Các tiếng Nam, quốc, sơn, hà đều có nghĩa ( Nam: phương nam, quốc: nước, sơn: núi, hà: sông), cấu tạo thành hai từ ghép Nam quốc và sơn hà (nước Nam, sông núi). Trong các tiếng trên, chỉ có Nam là có khả năng đứng độc lập như một từ đơn để tạo câu, ví dụ: Anh ấy là người miền Nam. Các tiếng còn lại chỉ làm yếu tố cấu tạo từ ghép, ví dụ: nam quốc, quốc gia, sơn hà, giang sơn, …

: Thiên trong thiên thư (ở bài Nam quốc sơn hà) nghĩa là trời, thiên trong (1) và (2) nghĩa là nghìn, thiên trong thiên đô nghĩa là dời. Đây là hiện tượng đồng âm của yếu tố Hán Việt.

a) Các từ sơn hà, xâm phạm (trong bài Nam quốc sơn hà), giang san (trong bài Tụng giá hoàn kinh sư) thuộc loại từ ghép chính phụ hay đẳng lập?

: Chú ý mối quan hệ giữa các tiếng trong từ. Các từ trên là từ ghép đẳng lập.

b) Các từ ái quốc, thủ môn, chiến thắng thuộc loại từ ghép gì? Nhận xét về trật tự của các tiếng trong các từ ghép loại này với từ ghép thuần Việt cùng loại.

: Các từ trên thuộc loại từ ghép chính phụ, yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau giống như từ ghép chính phụ thuần Việt.

c) Các từ thiên thư(trong bài Nam quốc sơn hà), thạch mã (trong bài Tức sự), tái phạm (trong bài Mẹ tôi) thuộc loại từ ghép gì? Hãy so sánh vị trí của các tiếng trong các từ ghép này với từ ghép thuần Việt cùng loại.

: Các từ này cũng thuộc loại từ ghép chính phụ nhưng trật tự các tiếng ngược lại với từ ghép chính phụ thuần Việt: tiếng phụ đứng trước, tiếng chính đứng sau.

1. Hãy phân biệt nghĩa của các yếu tố Hán Việt đồng âm trong các từ sau:

– phi1: phi công, phi đội / phi2:phi pháp, phi nghĩa / phi3: cung phi, vương phi

– tham1: tham vọng, tham lam / tham2: tham gia, tham chiến

: Tra từ điển để biết nghĩa của các yếu tố đồng âm. Hoacó các nghĩa: bông hoa, người con gái; tốt đẹp. Phi: bay, chẳng phải, sai trái, vợ vua, mở ra. Tham: ham muốn, dự vào. Gia: nhà, thêm vào.

2. Thêm tiếng để tạo từ ghép theo bảng sau:

3. Xếp các từ hữu ích, thi nhân, đại thắng, phát thanh, bảo mật, tân binh, hậu đãi, phòng hoả vào bảng phân loại:

: Tra từ điển để biết nghĩa của mỗi yếu tố trong từ, xét vai trò các yếu tố. Trong các từ trên, các yếu tố đóng vai trò chính là: ích, thi, thắng, phát, mật, binh, đãi, hoả.

4. Tìm thêm mỗi loại 5 từ theo bảng trên.

Từ Hán Việt Là Gì? Những Từ Hán Việt Hay Và Ý Nghĩa

Homestay Là Gì? 8 Lý Do Nên Chọn Homestay Thay Cho Khách Sạn

Homestay Là Gì? Xu Hướng Du Lịch Mới Cho Giới Trẻ

Homestay Là Gì? Hiểu Để Kinh Doanh Thành Công Dịch Vụ Này

Kinh Doanh Homestay Cần Bao Nhiêu Tiền, Thủ Tục Giấy Phép Đăng Ký?

Sắc Thái Tu Từ Từ Hán Việt

Phân Lớp Từ Ngữ Theo Nguồn Gốc: Các Từ Ngữ Gốc Hán

Cách Tra Từ Điển Hán Ngữ

Ngôn Ngữ Hán Việt Trong Y Học (Bs. Vũ Thanh Giang)

Từ Ngữ Hán Việt Trong Tác Phẩm “lục Vân Tiên” Của Nguyễn Đình Chiểu

Nhiệt Độ Là Gì? Tìm Hiểu Về Nhiệt Độ Là Gì?

Sắc thái tu từ từ Hán Việt * Sắc thái trang trọng * Sắc thái tao nhã * Sắc thái khái quát và trừu tượng * Sắc thái cổ Tu từ học nghiên cứu những thuộc tính biểu cảm của các phương tiện ngơn ngữ. Sự vận dụng các kết quả nghiên cứu đĩ sẽ giúp cho lời văn hay hơn, đẹp hơn. Trải qua quá trình lựa chọn, cải biên và vận dụng kéo dài hàng ngàn năm, lớp từ Hán Việt đã trở thành một bộ phận hữu cơ trong kho tàng di sản văn hố của dân tộc ta và được chúng ta sử dụng để thể hiện sắc thái tu từ trong các phong cách chức năng khác nhau. Từ Hán Việt là nguồn chất liệu đáng kể trong văn học bác học và văn chương bình dân. Các tác phẩm văn học kinh điển của dân tộc ta, như: Chinh phụ ngâm, Cung ốn ngâm khúc, Truyện Kiều, Khĩc Trương Quỳnh Như, Chiều hơm nhớ nhà… đều sử dụng từ Hán Việt. Ngày nay, trong kho từ ngữ tiếng Việt cịn tồn tại hàng loạt cặp từ Hán Việt và thuần Việt cĩ nghĩa tương đương nhau về sắc thái ý nghĩa, về mặt biểu cảm và được dùng song song với nhau. Trong đĩ, từ Hán Việt thường mang sắc thái cổ kính và khơng thơng dụng cịn các từ thuần Việt mang tính hiện đại, thơng dụng. Và các nhà thơ cổ điển đã dịch một khái niệm cổ điển sang hiện đại. Ví dụ: quyền mơn → cửa quyền phù vân → mây nổi thanh sử → sử xanh … Cĩ thể nĩi tới 4 sắc thái tu từ của từ Hán Việt. 1. Sắc thái trang trọng Một số từ Hán Việt thay thế từ thuần Việt vì Hán Việt tạo cảm giác trang trọng, nghiêm trang hơn: phụ nữ – đàn bà nơng dân – dân cày hi sinh – chết … Dùng sinh, phế, phúng, tặng, tẩy… thay cho: đẻ, bỏ, viếng, cho, rửa… Cách đặt tên phố, chợ, bút danh (các nhà thơ trào phúng lại dùng các từ thuần Việt cho cĩ vẻ hài hước). Bác Hồ dùng từ Hán Việt trong trường hợp trang nghiêm: Các em quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. 2. Sắc thái tao nhã Từ Hán Việt thay thế cho từ thuần Việt trong trường hợp từ thuần Việt khi được nĩi ra gây cảm giác thơ tục, khiếm nhã. Các từ chỉ bệnh tật ghê sợ: thổ huyết, xuất huyết, viêm họng… Các từ chỉ tai nạn, chết chĩc: hoả hoạn, thương vong, từ trần… Các từ chỉ hoạt động sinh lí… Từ Hán Việt được dung với tư cách là uyển ngữ: mãn nguyệt khai hoa, động phong hoa trúc, cấp dưỡng… 3. Sắc thái khái quát và trừu tượng Một số từ Hán Việt, đặc biệt là thuật ngữ khoa học cĩ ý nghĩa khái quát hố cao mà từ thuần Việt khơng cĩ hoặc khơng cĩ nghĩa tương đương. Về chính trị: độc lập, tự do, dân chủ, dân quyền… Về ngoại giao: cơng hàm, lãnh sự, sứ quán… Về quân sự: tiến cơng, kháng chiến, du kích… Về tốn học: đồng quy, tiếp quyến, tích phân… Những thuật ngữ này cĩ nội hàm lớn, khái quát cao, nếu dùng từ thuần Việt thì dài dịng. Từ Hán Việt cĩ tính chất trừu tượng, tĩnh gợi cho ta hình ảnh thế giới ý niệm im lìm, tĩnh tại… Từ thuần Việt gợi sắc thái sinh động, cụ thể của thế giới thực tại. Cĩ thể lấy ví dụ so sánh bằng hai bài thơ: Thu điếu (Nguyễn Khuyến) và Chiều hơm nhớ nhà (Bà huyện Thanh Quan). Trong bài Thu điếu, Nguyễn Khuyến dùng tồn từ thuần Việt để gợi về mùa thu cĩ thực, về nơng thơn bình dị, đẹp nên thơ và rất đỗi thân yêu của làng quê Việt Nam. Ơng khơng dùng từ Hán Việt vì nếu dùng thì cảm giác thân quen, gần gũi rất cĩ thể sẽ bị mất đi. Và ở đây, chính các từ thuần Việt đã tạo nên âm hưởng, tạo nên cảm giác thân quen ấy. Trái lại, trong bài thơ của bà huyện Thanh Quan đĩ lại là hình ảnh về buổi chiều của nội tâm. Tác giả đã đẩy lùi bức tranh vào thế giới của tâm tưởng, ý niệm. Trong Mẹo giải thích từ Hán Việt của Phan Ngọc cĩ viết: Các từ Hán Việt mà nữ thi sĩ dùng đẩy ta vào thế giới muơn đời. Trên đời chỉ cĩ những ơng chài, những thơn bản, những trẻ chăn trâu, những người ở đài cao, những người khách trọ cảnh ấm lạnh của cuộc đời. Làm gì cĩ những ngư ơng, những viễn phố, những mục tử, những cơ thơn, làm gì cĩ trang đài, người lữ… Từ Hán Việt đều đặt vào vị trí quyết định – vần cuối câu thơ – dễ gây tiếng vọng trong tâm hồn ta, kéo ta về cõi vĩnh viễn của ý niệm. Và nỗi u hồi của nhà thơ là nỗi u hồi của cái kiếp trước khơng biết đến tháng năm, thời đại. Đây là nghệ thuật lựa chọn từ ngữ rất cơng phu. Những từ đĩ là những tín hiệu thẩm mĩ, những mơ típ nghệ thuật gắn với phong cách Đường thi và trở thành nét đẹp truyền thống của thơ ca Việt Nam. 4. Sắc thái cổ Một số từ Hán cổ quen dùng trong quá khứ đến bây giờ dùng lại gợi sắc thái cổ: tơn ơng, huynh ơng, phụ vương, ái phi, đồng mơn, đồng tuế… Mơ tả những hình ảnh cổ kính của một triều đại đã qua với một tâm trạng nuối tiếc, trong bài thơ Thăng Long thành hồi cổ, bà huyện Thanh Quan đã sử dụng những từ Hán Việt một cách cĩ ý thức. Và việc xếp những từ này vào cuối dịng thơ càng in đậm những hình tượng ngưng đọng trong kí ức. Tất cả đưa đến cho ta cảm giác về một sự đổi thay của tạo hố: Tạo hố gây chi cuộc hí trường Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo Nền cũ lâu đài bĩng tịch dương Đá vẫn trơ hàn cùng tuế nguyệt Nước cịn cau mặt với tang thương Nghìn năm gương cũ soi thành cổ Cảnh đấy người đây chốn đoạn trường Nhà thơ Sĩng Hồng cũng dùng từ Hán Việt để gợi lại khơng khí cổ: Đêm lạnh cành sương đượm Long lanh bĩng nguyệt vờn Tố Hữu khi nĩi về truyền thống cổ xưa của dân tộc cũng sử dụng từ Hán Việt: Cảm ơn Đảng cho ta dịng sữa Bốn nghìn năm chan chứa ân tình Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn bạo chúa Kiếp tì nơ vùng dậy chém nghê kình Từ Hán Việt cĩ sắc thái cổ cịn thường được dùng trong thể loại kịch, tuồng. Khi viết về một sự kiện lịch sử, nhà văn thường dùng ngơn ngữ của thời kì lịch sử đĩ, nếu khơng, người xem cĩ thể thấy lạc điệu. Các sắc thái ngữ nghĩa của từ Hán Việt cĩ sức mạnh tu từ nĩi trên chính là vì nĩ nằm trong thế đối lập với các từ thuần Việt. Hay nĩi một cách khác, chính sự đối lập với tiếng Việt là nguyên nhân làm cho nĩ cĩ sắc thái ngữ nghĩa hay tu từ mà nĩ vốn khơng cĩ khi ở trong tiếng Hán. Và sắc thái mới ấy chính là bằng chứng chắc chắn cho thầy rằng từ Hán Việt đã là một bộ phận hữu cơ của hệ thống từ vựng tiếng Việt GIẢI NGHĨA TỪ HÁN – VIỆT Hịa bình: Hịa vốn cĩ nghĩa là thuật nấu ăn (gồm cĩ chữ hịa là lúa và khẩu là miệng) mà nghệ thuật nấu ăn là một loại triết học, là cách giải quyết mối mâu thuẫn giữa nước và lửa, giữa mặn, nhạt, chua, cay, đắng… sao cho các mặt mâu thuẫn ấy phối hợp với nhau một cách hợp lý nhất mà khơng cĩ mâu thuẫn nào bị loại bỏ. Ví như nấu cơm mà để nước át lửa thì cơm nhão, để lửa át nước thì cơm khê. Nấu thức ăn phải làm sao cho cay khơng loại chua, chát khơng loại đắng, ngọt khơng loại mặn… phải để cho các vị ấy phối hợp với nhau một cách lý tưởng nhất, các mặt mâu thuẫn ấy đều tồn tại mà khơng mất đi một vế nào cả. Cịn bình là giữ cho yên ổn, khơng làm rối loạn. Ví như ta bình giặc Ngơ là ta làm cho mất hẳn âm mưu xâm lược của giặc. Vậy hịa bình là tuỳ thời cơ dẹp đi mối mâu thuẫn sống cịn và đạt được sự hài hịa giữa các mâu thuẫn khác. Cơ độc: Cơ là đứa trẻ khơng cĩ cha hoặc mẹ, cĩ âm Việt hĩa cổ là cơi. Độc là người đàn ơng già khơng cĩ con. Sách Nhĩ nhã và sách Mạnh tử cĩ câu: “Đàn ơng già khơng cĩ vợ gọi là quan, đàn bà già khơng cĩ chồng gọi là quả (âm Việt hĩa là gĩa), trẻ con khơng cĩ cha mẹ gọi là cơ, đàn ơng già khơng con gọi là độc, đấy là bốn loại người khốn cùng trong xã hội.” Tại sao? Vì thời cổ ở Trung Hoa, dân chủ yếu sống bằng nơng nghiệp trong các tỉnh điền. Theo chế độ tỉnh điền thì cứ vài năm nhà nước chia ruộng cho dân một lần, mà chỉ chia cho đàn ơng trưởng thành, do vậy trẻ con và phụ nữ ở gĩa thì khơng cĩ ruộng, đàn ơng già khơng vợ khơng con thì tuy cĩ ruộng nhưng khơng cĩ sức lao động, do đĩ cơ độc đồng nghĩa với khơng cĩ nơi dựa dẫm. Thao lược: Thao là cái túi đựng tên bắn, lược là phương sách dụng binh. Thao lược cịn là cách gọi ghép các chữ lục thao tam lược. Lục thao là tên sách do Lã vọng đời Chu soạn, Trang tử hiệu đính gồm cĩ sáu cách đánh trận là văn thao, võ thao, hổ thao, long thao, báo thao và khuyển thao. Tam lược là sách do Hồng Thạch Cơng soạn cho Trương Lương đời Hán, gồm cĩ ba lược là ba phép dụng binh. Về sau thao lược được dùng để chỉ người cĩ tài dùng quân. Phù phiếm: Phù là nổi trên mặt nước và đứng tại chỗ. Phiếm là nổi trên mặt nước và trơi đi, trơi lại. Cả từ phù phiếm chỉ sự vật hay tính cách nổi và nơng cạn, khơng cĩ căn nguyên gốc rễ vững vàng. Hy sinh: Tên gọi các con vật được chọn để tế thần linh thời cổ ở Trung Hoa, thường là trâu, bị, dê, lợn, gà… được dùng tế sống hay cắt lấy tiết để tế, lúc này con vật tế được gọi là con hy và con sinh. Xã đàn: Đàn đắp cao để tế thổ thần, cầu cho dân được ở yên. Xưa lập quốc trước nhất phải lập đàn thờ thần xã (thổ thần, chữ xã gồm bộ kỳ chỉ sự thờ cúng và chữ thổ chỉ thần đất) và đàn thờ thần tắc (tắc là Hậu Tắc, tên của thần nơng) nhằm cầu cho dân được lạc nghiệp vì thời cổ dân sống chủ yếu nhờ nơng nghiệp. Từ đĩ người ta dùng xã tắc để chỉ quốc gia, đất nước. Tơ hào:Đáng lẽ phải gọi là ti hào, vì tơ là âm cổ của ti, cĩ nghĩa là sợi tơ, một loại sợi rất nhỏ. Cịn hào là sợi lơng nhỏ chạy ngang thành hàng trong cái lơng chim vào mùa thu, mùa chim mới mọc lơng. Tơ hào đều chỉ những vật nhỏ bé nên cĩ nghĩa như chút xíu, mảy may. Tổ chức:Tổ là xếp các đầu dây dọc lại với nhau. Chức là dùng các sợi dây ngang đan kết với các sợi dây dọc lại thành một mạng lưới thống nhất. Tổ chức cĩ nghĩa là sự kết hợp của những tế bào trong một vật thể, cịn được dùng như một động từ. Ảnh hưởng:Ảnh là cái bĩng của một sự vật. Hưởng là tiếng vang của một vật thể khi bị gõ, bị cọ xát trong khơng khí, từ đĩ ảnh hưởng được dùng để chỉ chung tác động của một sự vật hay một sự việc tới một sự vật hay sự việc khác. Táo quân:Táo quân là gọi tắt nhĩm từ đơng trù tư mệnh táo chủ thần quân, tục gọi là vua bếp. Thường đặt ở phía đơng của nhà, là một trong ngữ tự gia đường tơn thần (năm vị thần được thờ trong nhà). Một là ở cổng nhà, hai là ở lối đi từ cổng vào nhà, ba là cửa chính vào nhà, bốn là phịng chính của nhà nơi đặt bàn thờ, năm là bếp (táo). Táo quân cĩ nhiệm vụ hàng năm vào ngày 23 tháng chạp lên thiên đình báo cáo việc trong năm ở dưới trần. Tinh vi:Tinh là gạo được giã kỹ lấy chất lõi ở trong (chữ tinh cĩ bộ mễ chỉ gạo) xưa được quan niệm là cái quý nhất của hạt gạo. Trong sách Luận ngữ cĩ câu nĩi của Khổng tử: “Dư thực bất yếm tinh” (Ta ăn gạo giã kỹ khơng bao giờ chán). Cịn vi là vật hay sợi rất nhỏ nhoi. Tinh thì tốt cịn vi thì quá tủn mủn và thường là xấu. Ví như văn thơ đời Tấn thường bỏ hàng mấy trang sách để mơ tả làn da má của phụ nữ (mỏng và mịn đến mức giĩ thổi mạnh thì rách) hay cặp lơng mi của người đẹp như thể là vi. Cũng vì thế mà ở tiếng Hán cổ vi cịn cĩ nghĩa là vơ hay phi (khơng cĩ gì). Hương cống:Ta gọi là ơng cống, chỉ người học chữ Nho ngày xưa đi thi hương đỗ cả bốn trường (bốn bài thi), đời Nguyễn gọi là cử nhân. Thi hương cĩ bốn kỳ, nếu chỉ đỗ ba kỳ thì gọi là tam trường hay ơng tú, nếu lần thi sau cũng chỉ đỗ ba kỳ thì gọi là tú kép, lần sau nữa cũng chỉ đỗ ba kỳ thì gọi là tú mền, lần sau nữa cũng chỉ đỗ ba kỳ thì gọi là tú đụp. Tang thương:Tang là cây dâu, thương là màu xanh của biển. Tang thương gọi tắt từ câu “thương hải biến vu tang điền” (biển xanh biến thành ruộng dâu). Ý chỉ cảnh biến đổi của cuộc sống từ đĩ cũng cĩ ý chỉ sự biến đổi của cuộc đời con người. Tiếng Việt chỉ dùng tang thương để chỉ sự thay đổi xấu đi. Tố nữ:Tố là sợi cịn chưa nhuộm, cịn giữ nguyên màu trắng. Nữ là con gái. Tố nữ cĩ nghĩa là người con gái cịn trình bạch, cịn trong trắng, tức là người con gái chưa cĩ chồng. Sách giáo khoa giải thích tố nữ là người con gái đẹp là khơng đúng. Mơn đăng hậu đối:Đây là cách nĩi sai. Đúng ra phải là mơn đang (hoặc đương) hộ đối. Mơn và hộ đều cĩ nghĩa là cái cổng hay cửa nhà. Ở phương Tây cũng như phương Đơng xưa, cổng (và cả xe ngựa) đều cĩ gắn gia huy (dấu hiệu riêng của gia tộc) thể hiện vị trí, địa vị của một dịng họ. Đương và đối là xứng đơi, sánh đơi với nhau trong quan hệ thơng gia. Hàn huyên:Hàn là lạnh, huyên là ấm. Xưa trong gia đình trước khi đi ngủ con cái phải hỏi thăm xem cha mẹ cĩ lạnh khơng. Khi ngủ dậy lại phải hỏi thăm cha mẹ xem đêm ngủ cĩ được ấm khơng. Do đĩ, hàn huyên là lời hỏi thăm nhau giữa những người thân, nghĩa cũng như hàn ơn. Đao phủ:Đao là dao, phủ là búa. Hai dụng cụ dùng để chặt đầu những người cĩ tội xưa. Người cĩ tội phải đặt đầu mình lên một cái thớt bằng gốc cây và bị dao hay búa chặt đầu rời khỏi mình. Người thi hành cơng việc này vì thế cũng được gọi là đao phủ. Bao biện:Bao là ơm lấy một mình. Biện là làm hay giải quyết cơng việc. Bao biện là khơng hỏi ý kiến mọi người hoặc khơng phải cơng việc của mình cứ ơm lấy mà làm. Nhiều người hiện nay hiểu bao biện là bao che, biện hộ cho người khác là sai. Xuân huyên:Xuân là loại cây cao to lá màu hồng, xum xuê cĩ hương thơm, ăn được, xưa thường được dùng để tượng trưng cho người cha trong gia đình. Huyên là loại cây nhỏ giống như cây xương bồ nhưng hẹp và mềm hơn, hoa giống hoa bách hợp, cịn cĩ tên là “vong ưu thảo” (cây cỏ làm quên mọi sự lo buồn), thường trồng ở phía buồng người mẹ, cĩ ý cho mẹ khỏi lo buồn. Vì vậy xuân huyên là chỉ chung cha mẹ. Tần tảo:Tần và tảo đều là hai loại rau nước, kém ngon và rẻ tiền, dễ kiếm. Xưa phụ nữ nhà nghèo, quen kham khổ thường ăn các rau này, vì thế người ta dùng hai chữ tần tảo để chỉ người vợ hiền, chịu thương, chịu khĩ ăn thứ khơng ngon để tằn tiện nuơi chồng, nuơi con. Trừ tịch:Trừ cĩ nhiều nghĩa, trong đĩ cĩ nghĩa là năm cũ chuyển sang năm mới (theo Khang Hy tự điển). Tịch là khoảng thời gian từ giờ tuất (7 đến 9 giờ tối) cho đến sáng hơm sau. Vậy trừ tịch chỉ đêm 30 tháng chạp âm lịch. Giao thừa:Giao là chuyển một vật, một người, một thời gian nào đĩ cho một khách thể. Thừa là nhận một vật, một người, một thời gian nào đĩ của chủ thể chuyển giao. Ở đây giao thừa cĩ nghĩa là lúc năm cũ chuyển giao sang năm mới Gia thất :Gia là nhà, thất là buồng. Kinh Lễ cĩ câu “Nam chi hữu thất, nữ chi hữu gia” nghĩa là: đàn ơng cĩ buồng (để vợ ở), đàn bà cĩ nhà (nơi mình về, chỉ nhà chồng). Vì vậy vợ chồng lấy nhau gọi là yên bề gia thất. Ở nước ta, chữ gia thất cịn dịch là nhà như “nhà ơi!” để vợ chồng gọi nhau hoặc “nhà tơi” để xưng hơ với người khác. Cịn chữ “mình” lại xuất phát từ thần thoại châu Âu: Xưa, một vị thần thấy các cặp vợ chồng khơng được “cơm lành canh ngọt” bèn chặt mọi người ra làm đơi để các nửa người đi tìm nửa kia của mình mà lắp. Nhưng nĩi chung đa số đều lắp nhầm, nên cứ đi lang thang để gọi “mình ơi! mình ơi!” và gọi người mình yêu là một nửa của tơi. Giá thú:Giá là con gái về nhà chồng (gồm chữ nữ là con gái và chữ gia là nhà, chữ này cĩ âm Việt hĩa là gả); thú là đàn ơng lấy vợ (gồm chữ thủ là lấy và chữ nữ là đàn bà). Hơn nhân:Hơn là nhà trai thơng gia với nhà gái; nhân là nhà gái thơng gia với nhà trai. Nam nữ thụ thụ bất thân :Nam nữ là trai và gái; thụ1 là trao một vật gì đĩ, thụ2 là nhận một vật gì đĩ, bất thân là khơng được gần nhau. Cả câu nghĩa là nam nữ khơng được đưa vật trực tiếp cho nhau. Kinh Lễ cĩ câu “Trí chi nhi hậu thủ chi” nghĩa là nam (hay nữ) đặt một vật xuống (rồi bỏ đi), người kia đến mà nhặt lấy. Tang bồng :Tang là cây dâu. Xưa thường dùng gỗ cây dâu để làm cung bắn; Bồng là cỏ bồng, một thứ cỏ thẳng mà cứng, thường dùng làm tên bắn. Xưa người Hán khi sinh con trai thường treo một cái cung ngồi cửa, tỏ ý muốn con sau này tung hồnh trời đất, thỏa chí tang bồng. Gươm đàn :Gươm đàn là từ Việt dịch từ từ Hán Việt: Kiếm cung. Gươm là âm Việt hĩa của từ kiếm (cũng như gương là từ Việt hĩa của kính, gắng và gượng là từ Việt hĩa của cưỡng. Gố là từ Việt hĩa của quả. Gần là từ Việt hĩa của cận. Đàn là từ Hán Việt, là một thứ cung khơng bắn bằng tên mà bắn bằng đá mài trịn hay đất sét viên trịn rồi nung kỹ. Các viên đĩ sau này cĩ âm là đạn. Trong truyện Kiều cĩ câu tả về Từ Hải như sau: “Gươm đàn nửa gánh, non sơng một chèo” là mượn từ câu nĩi của Hồng Sào, lãnh tụ khởi nghĩa nơng dân đời Đường: “Bán kiên cung kiếm bằng thiên túng / Nhất trạo giang sơn vãn địa duy”. Nghĩa là: nửa vai cung kiếm tung hồnh trời đất, một chèo giang sơn kéo lệch đất trời. Trong các bản dịch sang tiếng Pháp, các dịch giả dịch từ đàn thành guitare là khơng đúng. Điếm nhục (như trong điếm nhục gia phong) :Điếm là vết bẩn, vết xước trên viên ngọc (chữ điếm cĩ bộ ngọc), nhục là dơ bẩn, cĩ âm cổ là nhuốc (như vụ cĩ âm cổ là mùa, vũ cĩ âm cổ là múa, chủ cĩ âm cổ là chúa, chú (chú thích) cĩ âm cổ là chua). Điếm nhục là làm dơ bẩn. Học trị :Vốn cĩ âm Hán Việt là học đồ (người theo thầy học chữ). Trước thế kỷ XVII cĩ một số từ âm đầu đ trong tiếng Hán do ảnh hưởng tiếng Việt cổ mà đọc thành tl (như ghi trong từ điển Việt – Bồ – Latinh của chúng tôi Rodes) nên học đồ đọc thành học tlị. Cuối thế kỷ XVII, âm tl trong tiếng Việt biến đổi thành tr nên học tlị biến thành học trị. Lãnh tụ :Lãnh là cổ áo. Tụ là tay áo. Áo ngày xưa khuơn khổ dài ngắn, rộng hẹp đều phụ thuộc vào cổ và tay, nghĩa là cổ, tay quyết định khuơn khổ của áo. Do đĩ, người ta dùng lãnh tụ để chỉ người quyết định mọi phép tắc, đường lối. Tao khang :Tao là cám. Khang là bã. Tao khang chỉ người cùng mình chịu cảnh khốn khĩ cùng ăn cám bã với nhau, thường chỉ người vợ hiền. Người Hán cĩ câu: “Tao khang chi thê bất khả vong, bần tiện chi giao bất khả phụ”. Nghĩa là: người vợ cùng cảnh ăn cám bã với mình khơng bao giờ được quên, người bạn thuở nghèo hèn với mình khơng bao giờ được phụ bạc họ. Ngậm tăm :Ngậm tăm mượn từ chữ hàm mai trong tiếng Hán. Hàm là ngậm trên miệng. Mai là tre vĩt nhỏ tựa cái tăm to. Người Trung Hoa xưa khi cho quân đội hành quân đêm, để giữ bí mật, bèn phát cho mỗi người lính một cái que tăm bắt ngậm vào miệng để khỏi nĩi, sáng ra hay khi đến nơi, viên quản quân kiểm tra thấy người lính nào khơng cĩ tăm trên miệng thì sẽ đem chém đầu. Do đĩ ngậm tăn cĩ nghĩa là khơng nĩi. Đoạn trường :Đoạn là đứt. Trường là ruột, chỉ sự đau đớn tuyệt độ. Theo Cổ học tinh hoa: Xưa cĩ con chĩ sĩi bị người đi săn bắn chết mất con nên đau đớn gào khĩc thảm thiết, bỏ cả ăn uống, sau một thời gian thì kiệt sức mà chết. Người ta đem nĩ mổ bụng thì thấy ruột gan nĩ đứt thành từng đoạn. Giải quyết :Giải là cởi các nút đang bị thắt (cời là âm cổ của giải). Quyết là vét chỗ nước đọng làm cản bước đi. Vì vậy giải quyết chỉ việc xử lý những gì đang cịn vướng mắc. Sách :Sách vốn là những thanh tre dùng dao khắc hoặc bút sơn viết lên cật rồi đục thủng một đầu, dùng dây xâu lại với nhau. Loại sách này cĩ từ thời Chiến quốc. Đời Tần, vua Tần Thuỷ Hồng mỗi ngày phải đọc hàng tạ sách như vậy. Vở :Là âm Việt hĩa của từ Hán Việt bạ như trong y bạ, địa bạ, trước bạ.v.v… chỉ cuốn sổ ghi chép các sự việc. Tri thức :Từ này xuất hiện đầu tiên ở sách Quản tử thời Xuân Thu chiến quốc với nghĩa: quen biết nhau. (Tri: biết; thức: nhận được nhau). Đến thời Minh, Thanh mới cĩ nghĩa: sự nhận thức của con người đối với sự vật và kinh nghiệm mà con người tích luỹ được qua thực tiễn xã hội. Cơng chứng :Cơng chứng là gọi tắt từ bỉnh cơng chất chứng. Bỉnh cơng là nắm quyền và thay mặt nhà nước. Chất chứng là tra xét và chứng thực sự việc và giấy tờ là đúng. Lưu chiểu: Từ này dùng sai, đúng ra là lưu chiếu nghĩa là lưu giữ để làm bằng khi cần đối chiếu, tra xét. Trọng thị :Trọng thị là coi trọng trong lịng về mặt tâm lý. Nĩi ơng A đã được nước B đĩn tiếp một cách trọng thị là khơng thuận tai. Ta nĩi được đĩn tiếp một cách long trọng hay trọng thể thì đúng hơn, vì sự đĩn tiếp này được thể hiện bằng các hình thức bên ngồi như cờ quạt, quốc ca, hàng rào danh dự, thảm đỏ, quân nhạc v.v… Văn :Văn nghĩa nguyên thuỷ là đường vằn (hoa văn) như các vằn trên mình lồi hổ báo. Vì vằn là cái biểu hiện bên ngồi của con vật hay sự vật nên nĩ lại cĩ nghĩa là hình thức. Cịn nội dung bên trong được gọi là chất. Sách Luận ngữ cĩ câu: “Văn chất bàn bàn nhiên hậu quân tử” nghĩa là cả hình thức bên ngồi và nội dung bên trong đều đẹp rờ rỡ mới là bậc quân tử. Đến đời Lương ở Trung Quốc, thái tử Chiêu Minh là Tiêu Thống mới đem tất cả các sách vở trước đĩ chọn lấy những bài cĩ cảm xúc và hình thức tươi đẹp thành bộ Văn tuyển thì từ đĩ văn chương hay văn học mới được tách ra khỏi giai đoạn văn – sử – triết bất phân mà thành một mơn riêng. Kết hơn :Chỉ tục thơng gia giữa hai họ với nhau. Thời Tây Chu (Trung Quốc) quy định nam 30 tuổi lấy vợ (khí huyết đầy đủ), nữ 20 tuổi lấy chồng (đủ tuổi làm mẹ). Thời Xuân Thu, Tề Hồn Cơng quy định nam 30 tuổi lập gia đình, nữ 15 tuổi xuất giá. Việt Vương Câu Tiễn quy định nam dưới 20 tuổi chưa được kết hơn, nữ dưới 17 tuổi chưa được xuất giá. Đời nhà Đường quy định lệ giống Tề Hồn Cơng. Nhưng giữa đời Đường, do chiến tranh kéo dài, dân số thiếu hụt nên quy định nam 15 tuổi, nữ 13 tuổi phải kết hơn nếu khơng sẽ bị quan phủ xử phạt. Sau giải phĩng, chính phủ Trung Quốc quy định nam trước 22 tuổi, nữ trước 20 tuổi khơng được phép kết hơn.

Tìm Từ Hán Việt Trong Bài Sông Núi Nước Nam Và Bài Ca Côn Sơn

Tản Mạn Về Từ Hán Việt: Sinh Thì Là Chết? (Phần 11.1)

Tên Một Số Con Vật Bằng Tiếng Hán Việt

Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Của Chữ Phúc

Thế Nào Là Từ Ghép? Lưu Ý Cách Phân Loại Từ Ghép Chính Phụ, Đẳng Lập

🌟 Home
🌟 Top